Lợi nhuận giữ lại - chiến lược khôn ngoan của kế toán trưởng



Lợi nhuận giữ lại là gì?
Đó là thu nhập sau thuế (nói chung) còn nằm trong cơ cấu tài chính doanh nghiệp. Khoản tài chính này được công ty tích tụ từ năm này sang năm khác thành một giá trị lớn hoặc rất lớn. Sự tích tụ đó có được là nhờ công ty làm ăn giỏi, phát đạt và cổ tức sẽ được cân đối từ nguồn tài chính này. Thuật ngữ tiếng Anh gọi "lợi nhuận giữ lại" là "retained earnings". Ở ta, nhiều nơi gọi đây là "lợi nhuận chưa phân phối", hoặc "lãi chưa chia", có lẽ chưa đúng lắm. Một khoản được gọi là giữ lại có ý nghĩa khẳng định, trong khi nếu gọi là "chưa chia" thì nó dễ được xem là một khoản được treo lại và sẽ chia...

Lợi nhuận giữ lại được tính toán bằng cách thêm vào lợi nhuận giữ lại ban đầu (các năm trước đó) thu nhập thuần và trừ đi cổ tức trả cho các cổ đông
Lợi nhuận giữ lại = lợi nhuân giữ lại ban đầu + thu nhập ròng – cổ tức.
Lợi nhuận giữ lại (Retained Earnings) còn được gọi là "retention ratio" hoặc là "retained surplus".
Trong hầu hết các trường hợp, công ty giữ lại lợi nhuận nhằm đầu tư vào các khu vực mà công ty có thể tạo ra các cơ hội tăng trưởng tốt, thí dụ như mua máy móc thiết bị mới hoặc chi tiền chi nhiều hơn cho việc nghiên cứu và phát triển (R&D).
Nếu khoản lỗ trong năm nay lớn hơn thu nhập giữ lại ban đầu thì lợi nhuận giữ lại có thể là một số âm, tạo nên một khoản thiếu hụt trong doanh nghiệp
Hai mặt lợi ích chi phí của lợi nhuận giữ lại
Việc giữ lại lợi nhuận có cả hai mặt lợi ích và chi phí, do đó có thể có một mức tối ưu mà tại đó giá trị doanh nghiệp là tối đa. Lợi ích của lợi nhuận giữ lại xuất phát từ một vài nguyên nhân như:
Thứ nhất, đối với động cơ phòng ngừa, các doanh nghiệp duy trì được tính thanh khoản để phản ứng lại các tình huống bất ngờ không dự đoán trước được.
Thứ hai, đối với động cơ giao dịch, giữ lại lợi nhuận để đáp ứng các hoạt động thường xuyên của doanh nghiệp.
Thứ ba, doanh nghiệp có thể giữ lại tiền mặt nội bộ để tận dụng các cơ hội đầu tư do sự hiện hữu của vấn đề bất cân xứng thông tin có thể làm tăng chi phí tài trợ bên ngoài, thậm chí có thể dẫn đến bỏ qua các cơ hội đầu tư có NPV dương. Vì thế, nhà quản trị nắm giữ các tài sản có tính thanh khoản cao như tiền mặt để giảm chi phí tài trợ bên ngoài.
Thứ tư, đối với động cơ về thuế, các doanh nghiệp có thể thích giữ lại lợi nhuận hơn là chi trả cổ tức cho cổ đông để tránh phải nộp thuế trên cổ tức.
Ngược lại, việc giữ lại lợi nhuận cũng tạo ra các chi phí. Một mặt, nguồn dự trữ tiền mặt lớn có thể làm tăng chi phí đại diện do làm gia tăng mâu thuẫn đại diện giữa nhà quản trị và cổ đông. Dòng tiền tự do có thể làm gia tăng sự tùy ý của nhà quản trị, thực hiện các hành động đi ngược lại ý muốn của cổ đông. Mặt khác, nắm giữ tiền mặt hàm ý chi phí cơ hội, do tỷ suất sinh lợi thấp, cụ thể là nếu doanh nghiệp từ bỏ các cơ hội đầu tư có khả năng sinh lợi nhiều hơn để nắm giữ lượng tiền mặt đó.
Lợi nhuận giữ lại và lợi nhuận chưa phân phối có gì khác nhau không?
Theo chuẩn mực kế toán số 01 thì Lợi nhuận chưa phân phối là lợi nhuận sau thuế chưa chia cho chủ sở hữu hoặc chưa trích lập các quỹ;
Lợi nhuận sau thuế của công ty được trình bày trên báo cáo kết quả kinh doanh, sau đó được kết chuyển vào TK Lợi nhuận chưa phân phối. Trên nguyên tắc Lợi nhuận giữ lại chính là Lợi nhuận sau thuế sau khi đã chia cổ tức.
Lợi nhuận chưa phân phối chính là phần còn lại của Lợi nhuận sau thuế sau khi đã chia cổ tức bằng tiền và cộng với số dư Lợi nhuận chưa phân phối đầu kỳ. Phần này có thể được trích lập các quỹ của vốn chủ sở hữu và quỹ khen thưởng, phúc lợi - khoản mục này được đưa lên nợ phải trả, nên phần giảm của Lợi nhuận chưa phân phối nó sẽ khác với phần gia tăng của các quỹ thuộc vốn chủ sở hữu. Phần âm còn lại chính là phần trích lập quỹ khen thưởng phúc lợi.
Sau khi đã chia cổ tức, trích lập quỹ, phần còn lại chính là số dư cuối kỳ của TK Lợi nhuận chưa phân phối. Phần này có thể kết chuyển làm tăng vốn đầu tư của chủ sở hữu dưới nhiều hình thức như trả cổ tức bằng cổ phiếu, dĩ nhiên chỉ được tăng sau khi đăng ký lại với cơ quan hữu trách.
Tóm lại:
- Lợi nhuận giữ lại là lợi nhuận sau thuế giữ lại để tích luỹ bổ sung vốn
- Lợi nhuận chưa phân phối là lợi nhuận sau thuế chưa chia cho chủ sở hữu hoặc chưa trích lập quỹ
Kết luận

Nếu xem công ty như một "con người" thì con người đó có sự sống và sức sống riêng, có nhu cầu tồn tại và lớn mạnh, có tài sản riêng. Tài sản đó chính là cơ cấu vốn (capitalization) của công ty. Để có được cơ cấu vốn (là sức sống) đó, chúng cần cả nội lực lẫn ngoại lực. Ngoại lực trực tiếp dễ thấy là các khoản nợ, còn nội lực là vốn riêng. Vốn riêng (equity) gồm có vốn góp của cổ đông và lợi nhuận giữ lại. Vốn góp của cổ đông là phần khá cứng, trong khi nó đóng vai là cơ sở tài sản chủ lực của công ty thì đồng thời cũng vừa "ràng" vừa "đòi" quyền lợi (cổ tức) mà công ty luôn cần phải "biết điều". Một cách tương đối, bên cạnh các nghĩa vụ về nợ, ta cũng có thể thấy rằng vốn góp của cổ đông cũng là cơ cấu tài chính cần có nghĩa vụ, đôi khi còn nặng nề hơn các nghĩa vụ nợ nữa kia, vì nó liên quan nhiều đến vấn đề "quyền" chứ không chỉ có "lợi"! Những đan xen nhân quả ấy cho phép ta nhận định, đứng ở vị trí công ty, chỉ có lợi nhuận giữ lại mới thật sự là nội lực của công ty.
Công ty dịch vụ kế toán Hà Nội Chuyên cung cấp các loại dịch vụ kế toán như : 
Hotline: Mr Quân 0974 975 029 – 0941 900 994 Hỗ trợ: 24/7
[Read More...]


Kinh nghiệm xây dựng chính sách tài chính cho doanh nghiệp sme



Doanh nghiệp nhỏ và vừa đóng một vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, do đó thời gian qua Chính phủ đã kịp thời ban hành nhiều cơ chế về chính sách tài chính hỗ trợ cho khu vực này. Tuy nhiên, doanh nghiệp nhỏ và vừa hiện vẫn còn gặp phải những hạn chế nhất định trong việc huy động nguồn tài chính vào phát triển kế hoạch sản xuất kinh doanh…Điều này, đòi hỏi phải có những chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận nguồn vốn trong ngắn hạn lẫn trong dài hạn, nâng cao năng lực cạnh tranh, hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới.
Chính sách nguồn vốn
Thứ nhất, nguồn vốn tài chính từ bên trong:
Ưu điểm: Tính tự chủ về tài chính của DN cao hơn, tăng uy tín cho DN; Han chế việc chia sẻ kiểm soát; Hạn chế áp lực thanh toán đúng thời hạn…
Nhược điểm: Chi phí vốn thương cao hơn so với vốn vay hay trái phiếu; Hiệu quả sử dụng vốn thường không cao và có giới hạn về quy mô vốn.
Thứ hai, nguồn vốn tài chính từ bên ngoài:
Nguồn nguồn tài trợ từ bên ngoài: Các nguồn thông qua hoạt động trên thị trường chứng khoán, các nguồn không thông qua thị trường chứng khoán.
Nguồn tài chính từ bao cấp ngân sách: Chủ yếu đối với các DN dịch vụ phúc lợi, hay các DN đang được khuyến khích thực hiện các chương trình kinh tế - xã hội của chính phủ.
Nguôn tài chính khác (thuê mua hoặc đáo nợ).
Chính sách huy động các nguồn tài chính
Thứ nhất, chính sách huy động tập trung: DN chỉ tập trung vào một hoặc một số ít nguồn.
Ưu điểm: Chi phí huy động tài chính giam.
Nhược điểm: Phá vỡ cơ cấu tài sản nợ, làm thay đổi đột ngột chỉ số tài chính; Ảnh hưởng tới lợi tức cổ phần; DN lệ thuộc hơn vào một chủ nợ nào đó…
Thứ hai, chính sách huy động phân tán: DN đồng thời huy động từ nhiều nguồn.
Ưu điểm: Tránh được cái rủi ro tài chính; Giảm nguy cơ phá sản cho DN.
Nhược điểm: Chi phí huy động tài chính lớn.
Theo báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2015), tính đến nay, có 80% sô DNVVN có vốn điều lệ dưới 7 tỷ đồng, trong đó khoảng 90% cac DN phải đi vay vốn nhưng viêc huy động vốn rất khó khăn là do: tài sản thế chấp, thông tin tài chính kế toán chưa chuẩn mực, năng lực quản trị điều hành hạn chế…
Chính sách thay thế tín dụng bằng thuê mua
DN tạo vốn bằng cách thuê trang bị vật tư công cụ và tài sản cố định khác sử dụng cho kinh doanh. Hình thức nay sẽ hỗ trợ cho DN, khi khó khăn về vốn, đổi lại DN sẽ phải chịu mức chi phí giá thuê cao.
Thứ nhất, chính sách thay thế tín dụng bằng đảo nơ: Chính sách này giúp DN có ngay tài sản phục vụ quá trình kinh doanh, tránh được các rủi ro khi mất khách hàng thanh toán, giảm được các chi phí phát sinh trong quá trình đòi nợ. Tuy nhiên, tỷ lệ chiết khấu thường cao, dẫn đến giảm lợi nhuận. Trong nhiều trường hợp, chính sách này làm phức tạp thêm hoạt động tài chính của công ty. Trong cuộc khảo sát 1.000 DNVVN thuộc các ngành nghề khác nhau thì có tới 70% DN trả lời rằng, họ biết ít, hoặc chưa từng tìm hiểu về dịch vụ cho thuê tài chính (Châu Đình Linh (2015).
Thứ hai, thuê mua cũng là một hình thức tài trợ vốn cho DNVVN: Hình thức này rất phát triển trên thế giới, với ưu điểm nổi trội là không cần tài sản thế chấp, do đó rất phù hợp với đặc thù của DNVVN. Tuy nhiên, cho đến nay nó vẫn chưa phát triển xứng với tiềm năng
Chính sách khấu hao
Hiện nay có 3 phương pháp khấu hao với những ưu, nhược điểm khác nhau. Cac DNVVN Viêt Nam hiện nay hầu như chưa tận dụng được ưu thế cua phương pháp khấu hao nhanh, mới chỉ đơn thuần thực hiện khấu hao theo phương pháp cố định cố định. Phương pháp khấu hao chủ yếu được DNNVV Việt Nam thường áp dụng là phương pháp khấu hao tuyến tính do có cách tính đơn giản.
Chính sách bán chịu
Trong cơ chế thị trường, bán chịu được coi như là một biện pháp đẩy nhanh tiêu thụ. Việc áp dụng chính sách bán chịu mang lại nhiều lợi ich như: Giải phóng hàng tồn kho, tăng doanh thu, tuy nhiên chính sách này lại làm chậm kỳ luân chuyển vốn và giảm số vòng quay lưu động. Để có thể ap dung hiêu qua chính sách này, DN phai tính toán kỹ lưỡng và so sánh chi phí phát sinh do bán chịu với lợi nhuận mang lại.
Chính sách phân tích tài chính doanh nghiệp
- Các nguyên tắc khi phân tích tài chính: So sánh các chỉ số của DN qua các thời kỳ, trực tiếp là so sánh giữa năm trước với năm phân tích; So sánh giữa các chỉ số của DN với các đối thủ cạnh tranh chủ yếu qua các thời kỳ; So sánh chỉ số của DN với chỉ số bình quân ngành qua các thời kỳ; Phân tích trực tiếp tình hình tài chính của DN.
- Cách thực hiện: Tính toán các chỉ tiêu từ kết quả của các báo cáo tài chính; Chỉ ra các điểm mạnh, yếu về tài chính của DN và nguyên nhân; Đề xuất các biện pháp để khắc phục và phát huy... Thực tế cho thấy, việc phân tích tài chính ít được DNNVV quan tâm và không lập bộ phân chuyên trách riêng, chỉ có các ông chủ DN đảm nhiệm vơi cac chỉ sô đơn gian như so sanh doanh thu, lơi nhuận giữa các thời kỳ với nhau.
Linh hoạt tận dụng chính sách
Đối với DN:
Các DN cần thay đôi nhận thức trong việc nâng cao tầm quan trọng cua công công tác quản trị nói chung và quản trị tài chính nói riêng.
Thay đổi quan niệm cho rằng, sổ sách kế toán chỉ để khai báo với các cơ quan quản lý, cần thông qua các số liệu kế toán đó để có những phân tích và đánh giá về tài chính, để có thể đưa ra được những giải pháp tài chính hiệu quả hơn trong kinh doanh
Minh bạch về vấn đề tài chính, tạo điều kiện để thu hút được nhiều nguồn tài trợ khác nhau
Tăng cường tiếp cận các nguồn vốn hỗ trợ chính thức hoặc thông qua các chương trình dự án của tổ chức đối vơi DNVVN, hình thành các nguồn vơi lãi suất thấp.
Cân mạnh dạn trong việc thay đổi cách thức quản trị theo hướng cởi mở, cho phép người ngoài tham gia vào quản lý DN của mình thông qua các liên minh, liên kêt…
Đối với các cơ quan nhà nước:
Cần chủ động tháo bỏ rào cản cho DNVVN vay về tài sản thế chấp bằng cách nghiên cứu, tìm kiếm các hình thức, sản phẩm cho vay khác.
Xem xét đẩy mạnh việc cho vay thông qua tín chấp, đánh giá hiệu quả và lợi nhuận của các dự án đầu tư để cấp vốn cho DNVVN.
Nghiên cứu tạo ra những sản phẩm riêng biệt dành cho DNVVN và huy động các nguồn vốn dài hạn dành cho khu vực này.
Xây dựng hê thống các tổ chức tài chính phục vụ nhu câu về vốn cho các DNVVN, tạo điều kiện cho các DNVVN tiếp cận với nguồn vốn với lãi suất thấp.
Tăng cường hiệu quả hoạt động của các quỹ phát triển DNVVN.

Trong nền kinh tế thị trường với sự hội nhập kinh tế sâu rộng, các DNVVN Việt Nam đứng trước nhiều cơ hội và thách thức. Để tận dụng được cơ hội, né tránh các nguy cơ, phát triển bền vững trong một môi trường cạnh tranh khốc liệt, đòi hỏi cac DNVVN Viêt Nam phải có những bước đi thích hợp, thay đổi nhận thức về tầm quan trọng của quản trị nói chung và quản trị tài chính nói riêng, đăc biêt phai xây dựng và áp dụng các chính sách tài chính môt cách linh hoạt, hiệu quả.
Công ty dịch vụ kế toán Hà Nội Chuyên cung cấp các loại dịch vụ kế toán như : 
Hotline: Mr Quân 0974 975 029 – 0941 900 994 Hỗ trợ: 24/7
[Read More...]


Hướng dẫn xử lý hóa đơn mua của doanh nghiệp bỏ trốn, ngừng kinh doanh



Hiện nay có nhiều doanh nghiệp do vô tình hay cố ý, mua hàng nhận hóa đơn của những doanh nghiệp đã ngừng kinh doanh hay bỏ trốn, để lại nhiều phiền toái và hậu quả. Cách xử lý hóa đơn mua của doanh nghiệp ngừng kinh doanh hoặc bỏ trốn như thế nào? Các hóa đơn đầu vào này có được kê khai thuế GTGT đầu vào không? Sau đây, Kế toán Hà Nội xin chia sẻ cách xử lý hóa đơn mua của doanh nghiệp bỏ trốn, ngừng kinh doanh.

Trước tiên doanh nghiệp cần xác định rõ thời điểm mua hóa đơn của doanh nghiệp bỏ trốn, ngừng kinh doanh đó.
1. Thời điểm mua hóa đơn
Khi doanh nghiệp phát hiện hoặc được cơ quan thuế thông báo về những hóa đơn mua hàng hóa từ các doanh nghiệp đã ngừng sản xuất kinh doanh hoặc bỏ trốn khỏi địa chỉ đăng ký kinh doanh, việc đầu tiên doanh nghiệp cần phải xác định xem thời điểm phát sinh hóa đơn đầu vào trước hay là sau khi doanh nghiệp bỏ trốn. Có 2 trường hợp như sau:
a) Hóa đơn phát sinh sau ngày doanh nghiệp bỏ trốn
Trong trường hợp hóa đơn phát sinh sau ngày doanh nghiệp bỏ trốn thì doanh nghiệp không được khấu trừ thuế GTGT đầu vào và không được tính vào chi phí được trừ khi tính thuế TNDN.
b) Hóa đơn phát sinh trước ngày doanh nghiệp bỏ trốn
Trường hợp hóa đơn phát sinh trước ngày doanh nghiệp bỏ trốn thì doanh nghiệp phải kiểm tra xem xét. Nếu doanh nghiệp thực sự có mua hàng của doanh nghiệp đó, có hóa đơn, chứng từ hợp pháp, hợp lý, đầy đủ, đúng quy định, thì cơ sở kinh doanh sẽ được khấu trừ thuế GTGT đầu vào và sẽ được tính vào chi phí được trừ khi tính thuế TNDN.
2. Xử lý hóa đơn mua của doanh nghiệp ngừng kinh doanh hoặc bỏ trốn
Theo Công văn số 11797/BTC-TCT của Bộ Tài Chính hướng dẫn và bổ sung nội dung Công văn số 1752/BTC-TCT quy định như sau:
“2. Về khấu trừ, hoàn thuế GTGT đối với những doanh nghiệp có mua hàng hóa, sử dụng hóa đơn đầu vào trực tiếp của doanh nghiệp và doanh nghiệp trung gian ngừng kinh doanh, bỏ trốn khỏi địa điểm kinh doanh có dấu hiệu mua bán hóa đơn bất hợp pháp nhưng chưa có kết luận chính thức của cơ quan thuế hoặc các cơ quan chức năng (bao gồm cả trường hợp phát hiện dấu hiệu vi phạm trước ngày Bộ Tài chính ban hành công văn số 7527/BTC-TCT), thực hiện theo hướng dẫn tại Công văn số 13706/BTC-TCT ngày 15/10/2013 và Công văn số 1752/BTC-CTC ngày 10/2/2014 của Bộ Tài chính: cụ thể đối với một số trường hợp thực hiện như sau:
3. Nếu việc tạm dừng khấu trừ thuế dẫn đến tăng số thuế GTGT phải nộp thì Cơ quan thuế có trách nhiệm tổng hợp, theo dõi các trường hợp này, chưa yêu cầu nộp và chưa tính phạt nộp chậm chờ kết luận chính thức của Cơ quan có thẩm quyền.”
Như vậy, có các cách xử lý đối với từng trường hợp cụ thể như sau:
a) Nếu doanh nghiệp chưa thực hiện kê khai khấu trừ thuế GTGT
Khi doanh nghiệp chưa thực hiện kê khai khấu trừ thuế GTGT thì Cơ quan thuế thông báo bằng văn bản cho doanh nghiệp biết để tạm dừng kê khai khấu trừ thuế GTGT đối với các hóa đơn có dấu hiệu vi phạm pháp luật, chờ kết quả chính thức cơ quan có thẩm quyền.
b) Nếu doanh nghiệp đã kê khai khấu trừ thuế GTGT
Trường hợp khi doanh nghiệp đã kê khai khấu trừ thuế GTGT rồi thì cơ quan thuế thông báo bằng văn bản cho doanh nghiệp biết để kê khai điều chỉnh giảm số thuế GTGT đã khấu trừ tại chỉ tiêu 37 Mẫu số 01/GTGT.
Trường hợp doanh nghiệp khẳng định việc mua bán hàng hóa và hóa đơn GTGT đầu vào sử dụng kê khai khấu trừ là đúng quy định thì:
* Doanh nghiệp phải cam kết chịu trách nhiệm trước pháp luật.
* Cơ quan thuế kiểm tra những nội dung sau:
– Kiểm tra, xác minh về hàng hóa: Hợp đồng mua bán hàng hóa (nếu có); hình thức giao nhận hàng hóa; địa điểm giao nhận hàng hóa; phương tiện vận chuyển hàng hóa; chi phí vận chuyển hàng hóa; chủ sở hữu hàng hóa và nguồn gốc hàng hóa (trước thời điểm giao nhận hàng hóa).
– Kiểm tra xác minh về thanh toán: Ngân hàng giao dịch; đối tượng nộp tiền vào tài khoản để giao dịch; số lần thực hiện giao dịch; hình thức thanh toán; chứng từ thanh toán.
– Kiểm tra xác minh về xuất khẩu hàng hóa: Tờ khai hải quan có xác nhận thực xuất của Cơ quan hải quan; chứng từ thanh toán qua ngân hàng; Vận đơn (nếu có).
Qua thanh tra, kiểm tra nếu xác minh được việc mua bán hàng hóa là có thực và đúng với quy định của pháp luật thì doanh nghiệp được khấu trừ, hoàn thuế GTGT; đồng thời doanh nghiệp phải cam kết nếu trong các hồ sơ, tài liệu doanh nghiệp xuất trình cho cơ quan Thuế sau này phát hiện có sai phạm, doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm trước pháp luật.
c) Nếu việc tạm dừng khấu trừ thuế dẫn đến tăng số thuế GTGT phải nộp

Cơ quan thuế có trách nhiệm tổng hợp, theo dõi các trường hợp này, chưa yêu cầu nộp và chưa tính phạt nộp chậm, chờ kết luận chính thức của Cơ quan có thẩm quyền.
Công ty dịch vụ kế toán Hà Nội Chuyên cung cấp các loại dịch vụ kế toán như : 
Hotline: Mr Quân 0974 975 029 – 0941 900 994 Hỗ trợ: 24/7
[Read More...]


Thanh toán bảo hiểm y tế theo mức lương mới



Nhằm giúp cho người tham gia BHYT, có thẻ BHYT khi đi khám chữa bệnh đúng qui định được hưởng chế độ theo mức lương mới. Ngày 06/06/2016 Bảo hiểm xã hội Việt Nam ban hành Công văn 2046/BHXH-CSYT hướng dẫn thanh toán BHYT theo mức lương mới. Để các bạn nắm rõ chi tiết, Kế toán Hà Nội xin chia sẻ với các bạn qua bài viết “ Thanh toán bảo hiểm y tế theo mức lương mới ” như sau:

1. Quy định
Tại Công văn 2046/2016/BHXH – CSYT ngày 06/06/2016 của Bảo hiểm xã hội Việt Nam về việc áp dụng mức lương cơ sở theo Nghị định 47/2016/NĐ-CP của Chính phủ trong thanh toán chi phí khám chữa bệnh bảo hiểm y tế.
“Ngày 26/5/2016 Chính phủ ban hành Nghị định số 47/2016/NĐ-CP quy định mức lương cơ sở đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang, có hiệu lực thi hành kể từ ngày15/7/2016 nhưng tính hưởng từ ngày 01/05/2016 là 1.210.000 đồng/tháng. Để thống nhất thực hiện trong thanh toán chế độ khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế (BHYT), Bảo hiểm xã hội Việt Nam hướng dẫn cụ thể như sau:
Người có thẻ BHYT đi khám, chữa bệnh đúng quy định, có tổng chi phí một lần khám, chữa bệnh thấp hơn 181.500 đồng (một trăm tám mốt nghìn năm trăm đồng) tương đương 15% mức lương cơ sở không phải thực hiện cùng chi trả.
Mức chi trả tối đa cho một lần sử dụng dịch vụ cao, chi phí lớn của một số đối tượng theo quy định là 48.400.000 đồng (bốn mươi tám triệu bốn trăm nghìn đồng) tương đương 40 tháng lương tối thiểu.
Mức cùng chi trả chi phí khám, chữa bệnh trong năm lớn hơn 6 tháng lương cơ sở là 7.260.000 đồng(bảy triệu hai trăm sáu mươi nghìn đồng).”
2. Tóm tắt
Theo qui định trên từ ngày 15/07/2016 sẽ áp dụng Thanh toán bảo hiểm y tế theo mức lương mới là 1.210.000 đồng, nhưng tính hưởng từ ngày 01/05/2016. Để thống nhất thực hiện trong thanh toán chế độ khám chữa bệnh BHXH Việt Nam hướng dẫn cụ thể như sau:

Người có thẻ BHYT đi khám, chữa bệnh đúng qui định, có tổng chi phí khám chữa bênh thấp hơn 181.500 đồng tương đương với 15% mức lương cơ sở không phải thực hiện cùng chi trả.
Mức chi tối đa cho một lần sử dụng dịch vụ cao với tổng chi phí là 48.400.000 đồng tương đương với 40 tháng lương tối thiểu.
Mức cùng chi trả chi phí khám, chữa bệnh trong năm lớn hơn 6 tháng lương cơ sở là 7.260.000 đồng.

Trên đây là mức chi trả chi phí khám chữa bệnh theo mức lương mới, có hiệu lực từ ngày 01/05/2016, khi tham gia BHYT đi khám các bạn được hưởng chi phí khám, chữa bệnh các bạn còn được hưởng chế độ ốm đau, để nắm được thủ tục hồ sơ thanh toán chế độ ốm đau mời các bạn tham khảo thêm tại bài viết: Thủ tục hồ sơ hưởng chế độ ốm đau
Công ty dịch vụ kế toán Hà Nội Chuyên cung cấp các loại dịch vụ kế toán như : 
Hotline: Mr Quân 0974 975 029 – 0941 900 994 Hỗ trợ: 24/7
[Read More...]


Xử lý số tiền thuế trong trường hợp nộp thừa



Nhiều bạn thắc mắc số tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt khi nộp thừa thì phải xử lý như thế nào? Bài viết này, Kế Toán Hà Nội xin chia sẻ với các bạn cách xử lý số tiền thuế trong trường hợp nộp thừa như sau:

Căn cứ hướng dẫn tại Khoản 1, Khoản 2 Điều 33 Thông tư số 156/2013/TT-BTC ngày 06/11/2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Quản lý thuế; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý thuế và Nghị định số 83/2013/NĐ-CP ngày 22/7/2013 của Chính phủ:
1. Tiền thuế, tiền chậm nộp và tiền phạt được coi là nộp thừa khi:
a) Người nộp thuế có số tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt đã nộp lớn hơn số tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt phải nộp đối với từng loại thuế có cùng nội dung kinh tế (tiểu mục) quy định của mục lục ngân sách nhà nước trong thời hạn 10 (mười) năm tính từ ngày nộp tiền vào ngân sách nhà nước. Đối với loại thuế phải quyết toán thuế thì người nộp thuế chỉ được xác định số thuế nộp thừa khi có số thuế đã nộp lớn hơn số thuế phải nộp theo quyết toán thuế.
b) Người nộp thuế có số tiền thuế được hoàn theo quy định của pháp luật về thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế bảo vệ môi trường, thuế thu nhập cá nhân (trừ trường hợp nêu tại điểm a khoản này).
2. Người nộp thuế có quyền giải quyết số tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt nộp thừa theo thứ tự quy định sau:
a) Bù trừ tự động với số tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt còn nợ hoặc còn phải nộp của cùng loại thuế theo hướng dẫn tại khoản 1 Điều 29 Thông tư này (trừ trường hợp nêu tại điểm b khoản 1 Điều này).
b) Bù trừ tự động với số tiền phải nộp của lần nộp thuế tiếp theo của từng loại thuế có cùng nội dung kinh tế (tiểu mục) quy định của mục lục ngân sách nhà nước (trừ trường hợp nêu tại điểm b khoản 1 Điều này). Trường hợp quá 06 (sáu) tháng kể từ thời điểm phát sinh số tiền thuế nộp thừa mà không phát sinh khoản phải nộp tiếp theo thì thực hiện theo hướng dẫn tại điểm c khoản này.
c) Người nộp thuế có số tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt nộp thừa theo hướng dẫn tại điểm b khoản 1 Điều này và người nộp thuế có số tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt nộp thừa quy định tại điểm a khoản này sau khi thực hiện bù trừ theo hướng dẫn tại điểm a, điểm b khoản này mà vẫn còn số tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt nộp thừa thì người nộp thuế gửi hồ sơ đề nghị hoàn thuế đến cơ quan thuế trực tiếp quản lý để được giải quyết hoàn thuế theo hướng dẫn tại Chương VII Thông tư này.
– Trường hợp người nộp thuế được hoàn thuế, vẫn còn nợ tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt thì phải thực hiện bù trừ trước khi hoàn thuế. Thứ tự thanh toán bù trừ được thực hiện theo hướng dẫn tại Điều 29 Thông tư này.
– Trường hợp kết quả thanh tra, kiểm tra hoàn thuế xác định người nộp thuế vừa có số tiền thuế được hoàn, vừa có số tiền thuế bị truy thu, số tiền chậm nộp, tiền phạt thì cơ quan thuế ban hành quyết định xử lý vi phạm pháp luật về thuế đồng thời bù trừ ngay số tiền thuế được hoàn với số tiền thuế bị truy thu, số tiền chậm nộp, tiền phạt của người nộp thuế khi ra quyết định hoàn thuế kiêm bù trừ thu ngân sách nhà nước.
– Trường hợp số tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt còn nợ của người nộp thuế vừa phải nộp vào tài khoản thu ngân sách nhà nước vừa phải nộp vào tài khoản tạm thu, tạm giữ của ngân sách thì ưu tiên bù trừ cho số tiền phải nộp vào tài khoản thu ngân sách nhà nước.
– Trường hợp người nộp thuế có số tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt thuộc nhiều địa bàn thu ngân sách khác nhau thì được ưu tiên bù trừ đối với loại thuế có cùng địa bàn hạch toán thu ngân sách với loại thuế nộp thừa.
– Trường hợp người nộp thuế có số tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt của nhiều cơ quan quản lý thuế khác nhau thì được ưu tiên bù trừ đối với loại thuế có cùng cơ quan quản lý loại thuế nộp thừa.
– Trường hợp người nộp thuế được hoàn thuế, vẫn còn nợ tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt nhưng không đề nghị bù trừ khi đề nghị hoàn thuế, cơ quan thuế ra thông báo gửi người nộp thuế và phải thực hiện bù trừ số được hoàn với số thuế còn nợ ngân sách khi quyết định hoàn thuế cho người nộp thuế.
– Trường hợp sau khi thực hiện bù trừ, người nộp thuế vẫn còn số tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt nộp thừa thì được ngân sách nhà nước hoàn trả theo quy định.
– Trường hợp hoàn các khoản thuế nộp thừa (trừ hoàn thuế TNCN) mà người nộp thuế nộp tiền thuế tại nhiều địa phương khác, khi thực hiện bù trừ số thuế nộp thừa với số tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt còn nợ nêu tại điểm c khoản này, cơ quan thuế phải ghi rõ số tiền hoàn trả từ ngân sách nhà nước của từng địa phương theo tỷ lệ tương ứng với số tiền thuế đã nộp ngân sách nhà nước tại từng địa phương đó.
d) Hồ sơ hoàn thuế, thủ tục giải quyết hồ sơ hoàn thuế, thủ tục hoàn trả tiền thuế bù trừ với khoản thu NSNN được thực hiện theo hướng dẫn tại Chương VII Thông tư này.
Căn cứ hướng dẫn nêu trên: Trường hợp DN có số tiền thuế đã nộp lớn hơn số tiền thuế phải nộp, tuy nhiên trong 06 tháng kể từ thời điểm phát sinh số tiền thuế nộp thừa, hàng tháng DN vẫn phát sinh số thuế GTGT phải nộp thì DN không thuộc trường hợp được hoàn số thuế GTGT nộp thừa nêu trên theo quy định tại Điều 33 Thông tư số 156/2013/TT-BTC ngày 06/11/2013 của Bộ Tài chính.

Bạn còn bất kỳ điều gì thắc mắc, đừng ngần ngại, liên hệ ngay với Kế Toán Hà Nội để được tư vấn và hỗ trợ tốt nhất.
Công ty dịch vụ kế toán Hà Nội Chuyên cung cấp các loại dịch vụ kế toán như : 
Hotline: Mr Quân 0974 975 029 – 0941 900 994 Hỗ trợ: 24/7
[Read More...]


Trường hợp nào doanh nghiệp phải chịu thuế nhà thầu?



Năm 2016, chúng tôi có ký hợp đồng với đối tác nước ngoài nhập khẩu nguyên vật liệu. Trong hợp đồng ghi rõ bên Bán giao hàng cho bên mua theo điều kiện giao hàng DDT ( giao tại kho ngoại quan Hải Dương ). Toàn bộ chi phí phát sinh từ kho vận Hải Dương về đến bên người mua do người mua chịu trách nhiệm. Vậy trong trường hợp này doanh nghiệp tôi có phải chịu thuế nhà thầu không ?

Trả lời:
Về vấn đề này, Cục Thuế TP. Hải Phòng có ý kiến như sau:
Căn cứ Khoản 1, Khoản 5 Điều 1 Thông tư số 103/2014/TT-BTC ngày 06/8/2014 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện nghĩa vụ thuế áp dụng đối với tổ chức, cá nhân nước ngoài kinh doanh tại Việt Nam hoặc có thu nhập tại Việt Nam quy định đối tượng áp dụng như sau: “1. Tổ chức nước ngoài kinh doanh có cơ sở thường trú tại Việt Nam hoặc không có cơ sở thường trú tại Việt Nam; cá nhân nước ngoài kinh doanh là đối tượng cư trú tại Việt Nam hoặc không là đối tượng cư trú tại Việt Nam (sau đây gọi chung là Nhà thầu nước ngoài, Nhà thầu phụ nước ngoài) kinh doanh tại Việt Nam hoặc có thu nhập phát sinh tại Việt Nam trên cơ sở hợp đồng, thỏa thuận, hoặc cam kết giữa Nhà thầu nước ngoài với tổ chức, cá nhân Việt Nam hoặc giữa Nhà thầu nước ngoài với Nhà thầu phụ nước ngoài để thực hiện một phần công việc của Hợp đồng nhà thầu.
5. Tổ chức, cá nhân nước ngoài thực hiện quyền xuất khẩu, quyền nhập khẩu, phân phối tại thị trường Việt Nam, mua hàng hóa để xuất khẩu, bán hàng hóa cho thương nhân Việt Nam theo pháp luật về thương mại.”;
Căn cứ Khoản 2, Khoản 5 Điều 2 Thông tư số 103/2014/TT-BTC ngày 06/8/2014 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện nghĩa vụ thuế áp dụng đối với tổ chức, cá nhân nước ngoài kinh doanh tại Việt Nam hoặc có thu nhập tại Việt Nam quy định đối tượng không áp dụng như sau: “2. Tổ chức, cá nhân nước ngoài thực hiện cung cấp hàng hóa cho tổ chức, cá nhân Việt Nam không kèm theo các dịch vụ được thực hiện tại Việt Nam dưới các hình thức:
...- Giao hàng tại cửa khẩu Việt Nam: người bán chịu mọi trách nhiệm, chi phí, rủi ro liên quan đến hàng hóa cho đến điểm giao hàng tại cửa khẩu Việt Nam; người mua chịu mọi trách nhiệm, chi phí, rủi ro liên quan đến việc nhận hàng, chuyên chở hàng từ cửa khẩu Việt Nam (kể cả trường hợp giao hàng tại cửa khẩu Việt Nam có kèm điều khoản bảo hành là trách nhiệm và nghĩa vụ của người bán).
5. Tổ chức, cá nhân nước ngoài sử dụng kho ngoại quan, cảng nội địa (ICD) làm kho hàng hóa để phụ trợ cho hoạt động vận tải quốc tế, quá cảnh, chuyển khẩu, lưu trữ hàng hoặc để cho doanh nghiệp khác gia công.”,
Từ các căn cứ nêu trên, trường hợp doanh nghiệp của độc giả ký hợp đồng mua nguyên vật liệu của nhà cung cấp nước ngoài, hoạt động bán, phân phối hàng hóa từ kho ngoại quan vào nội địa thì hoạt động giao hàng từ kho ngoại quan không phải là hoạt động mang tính phụ trợ cho hoạt động vận tải quốc tế, quá cảnh, chuyển khẩu, lưu giữ hàng hoặc để cho doanh nghiệp khác gia công. Do đó, nhà cung cấp nước ngoài thuộc đối tượng áp dụng thuế nhà thầu theo quy định tại Thông tư số 103/2014/TT-BTC ngày 06/8/2014 của Bộ Tài chính. Doanh nghiệp của độc giả có trách nhiệm khấu trừ thuế nhà thầu của nhà cung cấp nước ngoài trước khi thực hiện thanh toán.
Cục Thuế TP. Hải Phòng có ý kiến để độc giả Đoàn Thu Hương biết và thực hiện theo đúng quy định các văn bản quy phạm pháp luật đã được trích dẫn tại văn bản này./.

Theo mof.gov.vn
Công ty dịch vụ kế toán Hà Nội Chuyên cung cấp các loại dịch vụ kế toán như : 
Hotline: Mr Quân 0974 975 029 – 0941 900 994 Hỗ trợ: 24/7
[Read More...]


Thế nào là cá nhân kinh doanh theo pháp luật thuế



Trong các văn bản pháp luật luôn có khái niệm cá nhân kinh doanh có doanh thu dưới 100 triệu hoặc trên 100 triệu. Vậy cá nhân kinh doanh là những đối tượng nào? Những ai được coi là cá nhân kinh doanh?

Thông tư 92/2015/TT-BTC tại Điều 1 quy định về người nộp thuế như sau:
– Người nộp thuế là cá nhân cư trú bao gồm cá nhân, nhóm cá nhân và hộ gia đình có hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ thuộc tất cả các lĩnh vực, ngành nghề sản xuất, kinh doanh theo quy định của pháp luật (sau đây gọi là cá nhân kinh doanh).
– Lĩnh vực, ngành nghề sản xuất, kinh doanh bao gồm cả một số trường hợp sau:
+ Hành nghề độc lập trong những lĩnh vực, ngành nghề được cấp giấy phép hoặc chứng chỉ hành nghề theo quy định của pháp luật.
+ Làm đại lý bán đúng giá đối với đại lý xổ số, đại lý bảo hiểm, bán hàng đa cấp của cá nhân trực tiếp ký hợp đồng với công ty xổ số kiến thiết, doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp bán hàng đa cấp.
+ Hợp tác kinh doanh với tổ chức.
+ Sản xuất, kinh doanh nông nghiệp, lâm nghiệp, làm muối, nuôi trồng, đánh bắt thuỷ sản không đáp ứng điều kiện được miễn thuế thu nhập cá nhân.
Lưu ý:
– Người nộp thuế theo quy định trên không bao gồm cá nhân kinh doanh có doanh thu từ 100 triệu đồng/năm trở xuống.
+ Để xác định cá nhân không phải nộp thuế giá trị gia tăng, không phải nộp thuế thu nhập cá nhân là doanh thu tính thuế thu nhập cá nhân của năm.
+ Cá nhân nộp thuế khoán kinh doanh không trọn năm (không đủ 12 tháng trong năm dương lịch) bao gồm: cá nhân mới ra kinh doanh; cá nhân kinh doanh thường xuyên theo thời vụ; cá nhân ngừng/nghỉ kinh doanh thì mức doanh thu 100 triệu đồng/năm trở xuống để xác định cá nhân không phải nộp thuế giá trị gia tăng, không phải nộp thuế thu nhập cá nhân là doanh thu tính thuế thu nhập cá nhân của một năm (12 tháng); doanh thu tính thuế thực tế để xác định số thuế phải nộp trong năm là doanh thu tương ứng với số tháng thực tế kinh doanh.
+ Nếu cá nhân kinh doanh theo hình thức nhóm cá nhân, hộ gia đình thì mức doanh thu 100 triệu đồng/năm trở xuống để xác định cá nhân không phải nộp thuế giá trị gia tăng, không phải nộp thuế thu nhập cá nhân được xác định cho một (01) người đại diện duy nhất trong năm tính thuế.

– Người nộp thuế theo phương pháp khoán là cá nhân kinh doanh có phát sinh doanh thu từ kinh doanh hàng hóa, dịch vụ thuộc tất cả các lĩnh vực, ngành nghề sản xuất, kinh doanh trừ cá nhân kinh doanh có doanh thu dưới 100 triệu đồng/ năm.
Công ty dịch vụ kế toán Hà Nội Chuyên cung cấp các loại dịch vụ kế toán như : 
Hotline: Mr Quân 0974 975 029 – 0941 900 994 Hỗ trợ: 24/7
[Read More...]


Khoản chi nào doanh nghiệp phải thanh toán qua ngân hàng?



Trường hợp doanh nghiệp phát sinh chi phí thuê văn phòng có hóa đơn giá trị từ 20 triệu đồng trở lên nhưng không thanh toán qua ngân hàng thì khoản chi phí này không đáp ứng về điều kiện thanh toán để tính vào chi phí được trừ.

Công ty của bà Ngô Hoài Thương (TP. Hồ Chí Minh) thuê văn phòng có hóa đơn giá trị trên 20 triệu đồng, cán bộ thuế có yêu cầu loại bỏ những hóa đơn thuê văn phòng của công ty do không thanh toán qua ngân hàng theo hướng dẫn tại Thông tư số 78/2014/BTC-TCT.
Tuy nhiên, trước đó công ty của bà Thương không nhận được thông báo hay hướng dẫn của cơ quan thuế về việc thực hiện Thông tư nêu trên. Theo bà Thương, việc cán bộ thuế loại những hóa đơn này của công ty khi không hướng dẫn thực hiện là không đúng. Bà Thương đề nghị cơ quan chức năng xem xét, trả lời.
Về vấn đề này, Cục Thuế TP. Hồ Chí Minh có ý kiến như sau:
Khoản 1, Điều 6 Thông tư số 78/2014/TT-BTC ngày 18/6/2014 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) có hiệu lực thi hành từ ngày 2/8/2014 và áp dụng cho kỳ tính thuế TNDN từ năm 2014 trở đi quy định:
"Các khoản chi được trừ và không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế
1. Trừ các khoản chi không được trừ nêu tại Khoản 2 Điều này, doanh nghiệp được trừ mọi khoản chi nếu đáp ứng đủ các điều kiện sau:
a) Khoản chi thực tế phát sinh liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp;
b) Khoản chi có đủ hóa đơn, chứng từ hợp pháp theo quy định của pháp luật.
c) Khoản chi nếu có hóa đơn mua hàng hóa, dịch vụ từng lần có giá trị từ 20 triệu đồng trở lên (giá đã bao gồm thuế GTGT) khi thanh toán phải có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt.
Chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt thực hiện theo quy định của các văn bản pháp luật về thuế GTGT...
Đối với các hóa đơn mua hàng hóa, dịch vụ đã thanh toán bằng tiền mặt phát sinh trước thời điểm Thông tư này có hiệu lực thi hành thì không phải điều chỉnh lại theo quy định tại Điểm này...".
Khoản 10, Điều 1 Thông tư số 26/2015/TT-BTC ngày 27/2/2015 của Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung Điều 15 (đã được sửa đổi, bổ sung tại Thông tư số 119/2014/TT-BTC ngày 25/8/2014 và Thông tư số 151/2014/TT-BTC ngày 10/10/2014 của Bộ Tài chính) quy định về điều kiện khấu trừ thuế GTGT đầu vào như sau:
“1. Có hóa đơn GTGT hợp pháp của hàng hóa, dịch vụ mua vào hoặc chứng từ nộp thuế GTGT khâu nhập khẩu hoặc chứng từ nộp thuế GTGT thay cho phía nước ngoài theo hướng dẫn của Bộ Tài chính áp dụng đối với các tổ chức nước ngoài không có tư cách pháp nhân Việt Nam và cá nhân nước ngoài kinh doanh hoặc có thu nhập phát sinh tại Việt Nam.
2. Có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt đối với hàng hóa, dịch vụ mua vào (bao gồm cả hàng hóa nhập khẩu) từ 20 triệu đồng trở lên, trừ các trường hợp giá trị hàng hóa, dịch vụ nhập khẩu từng lần có giá trị dưới 20 triệu đồng, hàng hóa, dịch vụ mua vào từng lần theo hóa đơn dưới 20 triệu đồng theo giá đã có thuế GTGT và trường hợp cơ sở kinh doanh nhập khẩu hàng hóa là quà biếu, quà tặng của tổ chức, cá nhân ở nước ngoài.
Chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt gồm chứng từ thanh toán qua ngân hàng và chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt khác hướng dẫn tại Khoản 3 và Khoản 4 Điều này.
3. Chứng từ thanh toán qua ngân hàng được hiểu là có chứng từ chứng minh việc chuyển tiền từ tài khoản của bên mua sang tài khoản của bên bán (tài khoản của bên mua và tài khoản của bên bán phải là tài khoản đã đăng ký hoặc thông báo với cơ quan thuế. Bên mua không cần phải đăng ký hoặc thông báo với cơ quan thuế tài khoản tiền vay tại các tổ chức tín dụng dùng để thanh toán cho nhà cung cấp) mở tại các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán theo các hình thức thanh toán phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành như séc, uỷ nhiệm chi hoặc lệnh chi, uỷ nhiệm thu, nhờ thu, thẻ ngân hàng, thẻ tín dụng, sim điện thoại (ví điện tử) và các hình thức thanh toán khác theo quy định (bao gồm cả trường hợp bên mua thanh toán từ tài khoản của bên mua sang tài khoản bên bán mang tên chủ doanh nghiệp tư nhân hoặc bên mua thanh toán từ tài khoản của bên mua mang tên chủ doanh nghiệp tư nhân sang tài khoản bên bán nếu tài khoản này đã được đăng ký giao dịch với cơ quan thuế)...".
Căn cứ các quy định nêu trên, trường hợp công ty của bà Thương phát sinh chi phí thuê văn phòng có hóa đơn giá trị từ 20 triệu đồng trở lên (giá đã bao gồm thuế GTGT) nhưng không thanh toán qua ngân hàng thì khoản chi phí này không đáp ứng về điều kiện thanh toán để tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp theo quy định tại Thông tư số 78/2014/TT-BTC nêu trên.
Theo chinhphu.vn


Công ty dịch vụ kế toán Hà Nội Chuyên cung cấp các loại dịch vụ kế toán như : 
Hotline: Mr Quân 0974 975 029 – 0941 900 994 Hỗ trợ: 24/7
[Read More...]


Khoản chi nào doanh nghiệp phải thanh toán qua ngân hàng?



Trường hợp doanh nghiệp phát sinh chi phí thuê văn phòng có hóa đơn giá trị từ 20 triệu đồng trở lên nhưng không thanh toán qua ngân hàng thì khoản chi phí này không đáp ứng về điều kiện thanh toán để tính vào chi phí được trừ.

Công ty của bà Ngô Hoài Thương (TP. Hồ Chí Minh) thuê văn phòng có hóa đơn giá trị trên 20 triệu đồng, cán bộ thuế có yêu cầu loại bỏ những hóa đơn thuê văn phòng của công ty do không thanh toán qua ngân hàng theo hướng dẫn tại Thông tư số 78/2014/BTC-TCT.
Tuy nhiên, trước đó công ty của bà Thương không nhận được thông báo hay hướng dẫn của cơ quan thuế về việc thực hiện Thông tư nêu trên. Theo bà Thương, việc cán bộ thuế loại những hóa đơn này của công ty khi không hướng dẫn thực hiện là không đúng. Bà Thương đề nghị cơ quan chức năng xem xét, trả lời.
Về vấn đề này, Cục Thuế TP. Hồ Chí Minh có ý kiến như sau:
Khoản 1, Điều 6 Thông tư số 78/2014/TT-BTC ngày 18/6/2014 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) có hiệu lực thi hành từ ngày 2/8/2014 và áp dụng cho kỳ tính thuế TNDN từ năm 2014 trở đi quy định:
"Các khoản chi được trừ và không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế
1. Trừ các khoản chi không được trừ nêu tại Khoản 2 Điều này, doanh nghiệp được trừ mọi khoản chi nếu đáp ứng đủ các điều kiện sau:
a) Khoản chi thực tế phát sinh liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp;
b) Khoản chi có đủ hóa đơn, chứng từ hợp pháp theo quy định của pháp luật.
c) Khoản chi nếu có hóa đơn mua hàng hóa, dịch vụ từng lần có giá trị từ 20 triệu đồng trở lên (giá đã bao gồm thuế GTGT) khi thanh toán phải có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt.
Chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt thực hiện theo quy định của các văn bản pháp luật về thuế GTGT...

Đối với các hóa đơn mua hàng hóa, dịch vụ đã thanh toán bằng tiền mặt phát sinh trước thời điểm Thông tư này có hiệu lực thi hành thì không phải điều chỉnh lại theo quy định tại Điểm này...".
Khoản 10, Điều 1 Thông tư số 26/2015/TT-BTC ngày 27/2/2015 của Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung Điều 15 (đã được sửa đổi, bổ sung tại Thông tư số 119/2014/TT-BTC ngày 25/8/2014 và Thông tư số 151/2014/TT-BTC ngày 10/10/2014 của Bộ Tài chính) quy định về điều kiện khấu trừ thuế GTGT đầu vào như sau:
“1. Có hóa đơn GTGT hợp pháp của hàng hóa, dịch vụ mua vào hoặc chứng từ nộp thuế GTGT khâu nhập khẩu hoặc chứng từ nộp thuế GTGT thay cho phía nước ngoài theo hướng dẫn của Bộ Tài chính áp dụng đối với các tổ chức nước ngoài không có tư cách pháp nhân Việt Nam và cá nhân nước ngoài kinh doanh hoặc có thu nhập phát sinh tại Việt Nam.
2. Có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt đối với hàng hóa, dịch vụ mua vào (bao gồm cả hàng hóa nhập khẩu) từ 20 triệu đồng trở lên, trừ các trường hợp giá trị hàng hóa, dịch vụ nhập khẩu từng lần có giá trị dưới 20 triệu đồng, hàng hóa, dịch vụ mua vào từng lần theo hóa đơn dưới 20 triệu đồng theo giá đã có thuế GTGT và trường hợp cơ sở kinh doanh nhập khẩu hàng hóa là quà biếu, quà tặng của tổ chức, cá nhân ở nước ngoài.
Chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt gồm chứng từ thanh toán qua ngân hàng và chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt khác hướng dẫn tại Khoản 3 và Khoản 4 Điều này.
3. Chứng từ thanh toán qua ngân hàng được hiểu là có chứng từ chứng minh việc chuyển tiền từ tài khoản của bên mua sang tài khoản của bên bán (tài khoản của bên mua và tài khoản của bên bán phải là tài khoản đã đăng ký hoặc thông báo với cơ quan thuế. Bên mua không cần phải đăng ký hoặc thông báo với cơ quan thuế tài khoản tiền vay tại các tổ chức tín dụng dùng để thanh toán cho nhà cung cấp) mở tại các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán theo các hình thức thanh toán phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành như séc, uỷ nhiệm chi hoặc lệnh chi, uỷ nhiệm thu, nhờ thu, thẻ ngân hàng, thẻ tín dụng, sim điện thoại (ví điện tử) và các hình thức thanh toán khác theo quy định (bao gồm cả trường hợp bên mua thanh toán từ tài khoản của bên mua sang tài khoản bên bán mang tên chủ doanh nghiệp tư nhân hoặc bên mua thanh toán từ tài khoản của bên mua mang tên chủ doanh nghiệp tư nhân sang tài khoản bên bán nếu tài khoản này đã được đăng ký giao dịch với cơ quan thuế)...".
Căn cứ các quy định nêu trên, trường hợp công ty của bà Thương phát sinh chi phí thuê văn phòng có hóa đơn giá trị từ 20 triệu đồng trở lên (giá đã bao gồm thuế GTGT) nhưng không thanh toán qua ngân hàng thì khoản chi phí này không đáp ứng về điều kiện thanh toán để tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp theo quy định tại Thông tư số 78/2014/TT-BTC nêu trên.

Theo chinhphu.vn
Công ty dịch vụ kế toán Hà Nội Chuyên cung cấp các loại dịch vụ kế toán như : 
Hotline: Mr Quân 0974 975 029 – 0941 900 994 Hỗ trợ: 24/7
[Read More...]


Những điều cần biết về thuế tndn trong kinh doanh bất động sản



Trong thời gian qua việc sửa đổi, bổ sung và đưa ra nhiều quy định mới nhằm hoàn thiện hành lang pháp lý trong quản lý, sử dụng đất đai đã góp phần nâng cao hiệu quả quản lý, ổn định thị trường bất động sản, tăng thu ngân sách cho nhà nước. Trong đó, chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp đối với bất động sản có sự đổi mới đáng kể, bởi quy định trong chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp đối với bất động sản luôn là vấn đề phức tạp có tác động không nhỏ đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và sự phát triển thị trường bất động sản.

Thực trạng chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp đối với bất động sản
- Về đối tượng chịu thuế:
Doanh nghiệp (DN) thuộc diện chịu thuế thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản (BĐS) bao gồm: DN thuộc mọi thành phần kinh tế, mọi ngành nghề có thu nhập từ hoạt động chuyển nhượng BĐS; DN kinh doanh BĐS có thu nhập từ hoạt động cho thuê lại đất.
Thu nhập từ hoạt động chuyển nhượng BĐS bao gồm: Thu nhập từ chuyển nhượng quyền sử dụng đất, chuyển nhượng quyền thuê đất (gồm cả chuyển nhượng dự án gắn với chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền thuê đất theo quy định của pháp luật); Thu nhập từ hoạt động cho thuê lại đất của DN kinh doanh BĐS theo quy định của pháp luật về đất đai không phân biệt có hay không có kết cấu hạ tầng, công trình kiến trúc gắn liền với đất; Thu nhập từ chuyển nhượng nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất, kể cả các tài sản gắn liền với nhà...
Thu nhập từ cho thuê lại đất của DN kinh doanh BĐS không bao gồm trường hợp DN chỉ cho thuê nhà, cơ sở hạ tầng, công trình kiến trúc trên đất.
- Về căn cứ tính thuế: Căn cứ tính thuế thu nhập từ chuyển nhượng BĐS là thu nhập tính thuế và thuế suất. Theo đó, thu nhập tính thuế bằng :)) thu nhập chịu thuế trừ (-) các khoản lỗ của hoạt động chuyển nhượng BĐS của các năm trước (nếu có).
- Thu nhập chịu thuế: Thu nhập chịu thuế từ chuyển nhượng BĐS được xác định bằng doanh thu thu được từ hoạt động chuyển nhượng BĐS trừ giá vốn của BĐS và các khoản chi phí được trừ liên quan đến hoạt động chuyển nhượng BĐS.
- Doanh thu từ hoạt động chuyển nhượng BĐS:
Doanh thu từ hoạt động chuyển nhượng BĐS được xác định theo giá thực tế chuyển nhượng BĐS theo hợp đồng chuyển nhượng, mua bán BĐS phù hợp với quy định của pháp luật (bao gồm cả các khoản phụ thu và phí thu thêm nếu có).
Thời điểm xác định doanh thu tính thuế là thời điểm bên bán bàn giao BĐS cho bên mua, không phụ thuộc việc bên mua đã đăng ký quyền sở hữu tài sản, quyền sử dụng đất, xác lập quyền sử dụng đất tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Việc xác định doanh thu đối với các trường hợp chuyển nhượng BĐS phải đảm bảo các nguyên tắc theo quy định của pháp luật.
- Chi phí chuyển nhượng BĐS:
+ Nguyên tắc xác định chi phí: Các khoản chi được trừ để xác định thu nhập chịu thuế của hoạt động chuyển nhượng BĐS trong kỳ tính thuế phải tương ứng với doanh thu để tính thu nhập chịu thuế và phải đảm bảo các điều kiện quy định các khoản chi được trừ và không thuộc các khoản chi không được trừ quy định của Luật Thuế thu nhập DN (TNDN) và các văn bản hướng dẫn thi hành.
+ Chi phí chuyển nhượng BĐS được trừ bao gồm: Giá vốn của đất chuyển quyền được xác định phù hợp với nguồn gốc quyền sử dụng đất. Đối với đất Nhà nước giao có thu tiền sử dụng đất, thu tiền cho thuê đất thì giá vốn là số tiền sử dụng đất, số tiền cho thuê đất thực nộp NSNN.
Đối với đất nhận quyền sử dụng của tổ chức, cá nhân khác thì căn cứ vào hợp đồng và chứng từ trả tiền hợp pháp khi nhận quyền sử dụng đất, quyền thuê đất; trường hợp không có hợp đồng và chứng từ trả tiền hợp pháp thì giá vốn được tính theo giá do UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quy định tại thời điểm DN nhận chuyển nhượng BĐS.
Đối với đất có nguồn gốc do góp vốn thì giá vốn là giá trị quyền sử dụng đất, quyền thuê đất theo biên bản định giá tài sản khi góp vốn. Giá trúng đấu giá trong trường hợp đấu giá quyền sử dụng đất, quyền thuê đất.
Đối với đất của DN có nguồn gốc do thừa kế theo pháp luật dân sự; do được cho, biếu, tặng mà không xác định được giá vốn thì xác định theo giá các loại đất do UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết định căn cứ vào Bảng khung giá các loại đất do Chính phủ quy định tại thời điểm thừa kế, cho, biếu, tặng...
+ Các loại chi phí bồi thường, đền bù về đất bao gồm: Chi phí đền bù thiệt hại về đất; chi phí đền bù thiệt hại về hoa màu; chi phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và chi phí tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo quy định của pháp luật.
Các khoản chi phí bồi thường, đền bù, hỗ trợ, tái định cư và chi phí tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư nêu trên nếu không có hóa đơn thì được lập Bảng kê ghi rõ: tên; địa chỉ của người nhận; số tiền đền bù, hỗ trợ; chữ ký của người nhận tiền và được chính quyền phường, xã nơi có đất được đền bù, hỗ trợ xác nhận theo đúng quy định của pháp luật về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất...
- Về thuế suất: Thuế suất thuế TNDN đối với hoạt động chuyển nhượng BĐS là 22% (mức thuế suất mới áp dụng từ ngày 01/01/2016 là 20%).
- Về xác định số thuế TNDN phải nộp:
Số thuế TNDN trong kỳ tính thuế đối với hoạt động chuyển nhượng BĐS bằng thu nhập tính thuế từ hoạt động chuyển nhượng BĐS nhân (x) với thuế suất 22%. Thu nhập từ chuyển nhượng BĐS phải xác định riêng để kê khai nộp thuế và không áp dụng ưu đãi thuế TNDN.
Một số tồn tại, hạn chế
- Về miễn, giảm thuế: Theo quy định của Luật Thuế TNDN và các văn bản hướng dẫn thi hành thì hoạt động chuyển nhượng BĐS không được hưởng ưu đãi thuế, trừ các dự án nhà ở cho sinh viên, cho công nhân lao động tại các khu công nghiệp, cho người thu nhập thấp tại khu vực đô thị. Tuy nhiên, chỉ có các đơn vị thuê đất trực tiếp của nhà nước mới được hưởng ưu đãi này. Thực tế, hiện nay tại các khu công nghiệp đang gặp rất nhiều khó khăn đối với các dự án xây dựng nhà ở cho công nhân vì các DN trong các khu công nghiệp thuê lại đất của các công ty kinh doanh kết cấu hạ tầng không phải thuê trực tiếp đất của Nhà nước nên không được hưởng ưu đãi thuế TNDN, tiền thuê đất hoặc tiền sử dụng đất.
- Về giá đất: Bảng giá các loại đất trên địa bàn tỉnh do UBND tỉnh ban hành hàng năm có sự khống chế bởi khung giá đất do Chính phủ quy định, một số trường hợp thấp hơn đơn giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường trong điều kiện bình thường. Do khung giá đất Nhà nước ban hành chưa sát với giá thị trường nên khi thực hiện chính sách đền bù cho dân, DN phải thuê đơn vị tư vấn để tiến hành xác định lại giá đất, dẫn đến tốn kém chi phí, mất thời gian.
- Giá đất thị trường theo quy định là giá chuyển nhượng thực tế trên thị trường trong điều kiện bình thường. Nhưng dùng giá người dân kê khai trong hợp đồng công chứng thì không đúng, mà áp giá mua bán thật thì không có cơ sở pháp lý.
Bên cạnh đó, việc ban hành bảng giá đất hằng năm cũng phát sinh nhiều rắc rối. Người bị thu hồi đất luôn muốn kéo dài sang năm mới để hưởng giá đất bồi thường cao hơn, khiến tiến độ dự án bị kéo dài.
Mặt khác, quy định áp dụng bảng giá đất công bố hằng năm cho 7 mục đích nhưng thực tế sử dụng có 4 mục đích. Nếu Nhà nước thu tiền sử dụng đất khi giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, cổ phần hóa... thì lại phải định giá lại.
Như vậy, hiệu quả bảng giá đất ban hành hằng năm chưa tương xứng với công sức bỏ ra. Xác định giá thị trường đề giao đất, cho thuê đất không thông qua đấu giá thì chủ yếu do đơn vị tư vấn và tổ chức thẩm định giá. Cơ quan tư vấn giá là đơn vị độc lập, hoặc đơn vị sự nghiệp nhưng tổ chức thẩm định giá lại thuần hành chính, trong cơ cấu bao gồm giám đốc các sở ngành, đôi khi không chú ý đến kỹ thuật thẩm định giá nên khi quyết giá đất không sát với thực tế.
Việc xác định giá đất cụ thể (cho từng trường hợp) chưa đáp ứng được nhu cầu của thực tế. Ví dụ, thực tế phát sinh ở Hà Nội, TP.Hồ Chí Minh: phải xác định giá thị trường của diện tích 10 m2 (diện tích đất ngoài hạn mức khi người dân xin chuyển mục đích...) hay nhỏ hơn nữa thì không thể mời tổ chức tư vấn và thành lập hội đồng thẩm định giá được.
- Giá vốn mua vào tính theo giá nào? Theo Luật Đất đai 2013 và Nghị định số 44/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 “về phương pháp xác định giá đất và khung giá đất” thì giá đất sẽ do UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tự quyết định công bố vào ngày đầu tiên của mỗi năm làm căn cứ để tính toán, trong đó có dùng làm căn cứ để: tính thuế đối với việc sử dụng đất và chuyển quyền sử dụng đất.
Những căn cứ để tính thuế TNDN là khung giá của UBND tỉnh công bố tại thời điểm chuyển nhượng. Trên thực tế có nhiều trường hợp DN mua tài sản mà thời điểm chuyển nhượng (mua vào) cách đây đã rất lâu nên giá vốn mua vào rất cao; so với giá quy định của UBND tại thời điểm chuyển nhượng thì chênh lệch quá lớn tức là nếu theo giá quy định của UBND tỉnh thì giá đất rất thấp và nếu đưa giá này vào công thức trên thì thu nhập chịu thuế rất cao mà DN không chịu nổi. Đó là điều bất hợp lý so với thực tế. Vì thế các DN vô cùng lúng túng, bị động.
Giải pháp hoàn thiện chính sách thuế đối với bất động sản
Thứ nhất, để hoạt động chuyển nhượng BĐS diễn ra công bằng và nghĩa vụ thuế của DN không bị thiệt thì cần sửa Luật Thuế TNDN và các văn bản hướng dẫn thi hành theo hướng nên đưa chỉ số giá vào để điều chỉnh giá vốn BĐS. Theo đó, thu nhập chịu thuế được xác định như sau:
Thu nhập chịu thuế = Giá BĐS thực tế chuyển nhượng trừ (–) Giá vốn BĐSnhân (x) chỉ số giá trừ (-) Chi phí đầu tư, cải tạo và các khoản thuế, phí, lệ phí đã nộp.
Chỉ số giá đưa vào điều chỉnh giá vốn BĐS là chỉ số giá tiêu dùng được nhà nước công bố hàng năm. Đối với trường hợp giá mua BĐS bằng vàng, bằng USD được quy thành tiền VND theo giá thống kê bình quân hàng tháng tại thời điểm mua, sau đó điều chỉnh giá vốn theo chỉ số giá. Trường hợp không xác định được giá vốn BĐS thì ấn định giá do UBND cấp tỉnh ban hành tại thời điểm mua. Đối với các BĐS có nguồn gốc trước khi Luật Đất đai năm 1993 có hiệu lực (trước ngày 15/10/1993), không thực hiện xác định giá vốn, vì lúc này thị trường BĐS chưa chính thức được thừa nhận.
Để tháo gỡ khó khăn và khuyến khích các DN cần có quy định đối với các trường hợp này vẫn được hưởng ưu đãi mặc dù không thuê trực tiếp đất của nhà nước. Bên cạnh đó, trước khi ban hành bảng giá các cơ quan liên ngành cần phải khảo sát xây dựng để bảng giá ban hành sát với giá thị trường trành tình trạng gian lận thuế. Đồng thời, chỉ nên xây dựng bảng giá đất ở làm chuẩn còn những loại đất khác tính phần trăm theo giá đất ở.
Thứ hai, thay đổi cách xây dựng giá đất
- Phải chia ra, phần nào Nhà nước làm để bảo đảm cơ chế sở hữu toàn dân về đất đai, phần nào thị trường làm, Nhà nước không nên ôm nặng việc, bị khiếu nại nhiều mà làm không xong; không chỉ định giá đánh đồng trên một đoạn đường để thu thuế (vì giá thuế thu đất cần thấp...). Phần định giá đất của DN... để cho các tổ chức định giá làm vì DN kinh doanh, mang tính thị trường.
- Chia nhỏ đất thành nhiều vùng giá trị, mỗi vùng có một giá đất chuẩn làm cơ sở để xây dựng bảng giá đất hằng năm. Cả nước dự tính có khoảng 1.000 vùng giá trị khác nhau, thay vì chỉ có 3 vùng giá trị như hiện nay. Bảng giá đất xây dựng theo cách này dùng để thu thuế của người dân và sẽ ổn định trong vòng 5 năm, khi nào có biến động mới điều chỉnh. Còn giá đất cụ thể của từng dự án thì áp dụng theo cơ chế thị trường, khi nào phát sinh thì sẽ định giá.
- Xây dựng bảng giá đất hằng năm bằng khoảng 70% giá thị trường. Vì việc điều tra giá đất bắt đầu từ tháng 6 năm trước, tính khoản trượt giá trong 6 tháng đến khi ban hành bảng giá đất mới cộng sai số do khảo sát thì kết quả sẽ ra giá đất khoảng 70% giá thị trường khi ban hành vào ngày 01/01 hàng năm.

- Áp dụng giá đất này để thu tiền thuê đất, tiền sử dụng đất khi giao đất công, cổ phần hóa DN. Khi bồi thường cho dân thì áp dụng hệ số k để điều chỉnh như trước đây đã từng làm (theo Nghị định số 22/1998/NĐ-CP về bồi thường giải phóng mặt bằng...). Để giảm gánh nặng đóng tiền sử dụng đất cho dân thì phải điều chỉnh giảm mức đóng (thay vì đóng 50% tiền sử dụng đất thì có thể quy định cho dân đóng từ 20% - 30%).
Công ty dịch vụ kế toán Hà Nội Chuyên cung cấp các loại dịch vụ kế toán như : 
Hotline: Mr Quân 0974 975 029 – 0941 900 994 Hỗ trợ: 24/7
[Read More...]


TRUNG TÂM KẾ TOÁN HÀ NỘI

Return to top of page