Nguy cơ vỡ Quỹ BHYT: Tăng mức phí để cân đối Quỹ BHYT



BHXH Việt Nam đang kiến nghị tăng mức đóng phí mua thẻ bảo hiểm y tế lên cao hơn mức 4,5% hiện nay để đảm bảo nguồn Quỹ
Ở bài viết trước, chúng tôi đã đề cập tình trạng Quỹ bảo hiểm y tế bội chi ở mức cao. Ngày 30/8, Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam đã yêu cầu Bộ Y tế và BHXH Việt Nam khẩn trương vào cuộc kiểm tra, kịp thời xử lý nghiêm các hành vi lạm dụng, trục lợi Quỹ BHYT. Cùng với việc thực hiện sự chỉ đạo này, BHXH Việt Nam đang kiến nghị tăng mức phí để Quỹ BHYT đảm bảo cân đối thu chi.

Thông tuyến bảo hiểm y tế thúc đẩy các bệnh viện phát triển để thu hút bệnh nhân.
Bệnh viện Đa khoa Cửa Đông, thành phố Vinh là 1 trong 10 bệnh viện tư nhân của Nghệ An được UBND tỉnh cho xuống hạng, từ hạng 2 xuống hạng 3 từ năm 2016. Bác sỹ Nguyễn Xuân Dũng, Giám đốc Bệnh viện Đa khoa Cửa Đông thừa nhận, từ khi được xuống hạng 3, tương đương với bệnh viện công lập tuyến huyện, đã thu hút thêm nhiều bệnh nhân nhờ chính sách thông tuyến bảo hiểm y tế. Tuy nhiên, Bộ Y tế chưa có quy định phân tuyến cho bệnh viện tư nhân nên các tỉnh, thành phố đều dựa vào hạng của bệnh viện tư nhân để xét tương đương với một tuyến nào đó trong hệ thống khám, chữa bệnh.
Bác sỹ Nguyên Xuân Dũng cho rằng, không thể khẳng định việc bệnh viện tư nhân xin xuống hạng là để trục lợi bảo hiểm y tế: “Việc xếp hạng bệnh viện là do UBND tỉnh căn cứ vào tình hình thực tế của bệnh viện chúng tôi. Hiện nay chưa có quy định nào về phân tuyến cho bệnh viện tư nhân cả. Chúng tôi khẳng định là việc thu hút bệnh nhân, phục vụ tốt bệnh nhân theo đúng quy định, còn việc số tiền chi trả bảo hiểm y tế tăng lên là do khách quan, mà việc đó là người dân được lợi”.
Trong khi đó, BHXH tỉnh Nghệ An lại cho biết, sau khi triển khai thông tuyến BHYT tại tuyến huyện, số tiền BHYT chi trả cho việc khám chữa bệnh tăng cao. Trong đó có việc chỉ định sử dụng thuốc và dịch vụ kỹ thuật chưa hợp lý. Nhiều bệnh viện không công nhận kết quả xét nghiệm cận lâm sàng của nhau dẫn tới người bệnh phải sử dụng dịch vụ y tế nhiều lần trong 1 thời gian ngắn, khiến Quỹ BHYT thêm bội chi.
Ông Lê Trường Giang, Giám đốc BHXH tỉnh Nghệ An cho biết: “Chúng tôi đang rà soát việc chi trả BHYT tại các bệnh viện trên địa bàn tỉnh Nghệ An và quan điểm của chúng tôi là sẽ dừng, không thanh toán đối với những trường hợp chi sai quy định…”
Quỹ bảo hiểm y tế đang có nguy cơ bị "vỡ".
Vấn đề đặt ra hiện nay là vì sao đã có 99,5% cơ sở khám chữa bệnh trong cả nước ứng dụng công nghệ thông tin và kết nối thành công vào Cổng thông tin giám định BHYT mà đến nay vẫn chưa kiểm soát được tình trạng trục lợi BHYT? Trả lời câu hỏi này, ông Phạm Lương Sơn, Phó Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam cho biết, khâu quan trọng nhất để kiểm soát là phải liên thông dữ liệu, chuẩn hoá các danh mục dùng chung giữa ngành y tế và ngành bảo hiểm, nhưng đến nay, ngành y tế và các cơ sở y tế chưa hoàn thành được. Đến giữa tháng 8 mới chỉ có 48% cơ sở khám chữa bệnh chuyển danh mục thuốc lên Cổng thông tin giám định, 41% cơ sở chuyển được danh mục dịch vụ kỹ thuật và chỉ có 14% cơ sở chuyển được danh mục vật tư y tế.
Ông Phạm Lương Sơn cũng cho biết, BHXH Việt Nam đang kiến nghị tăng mức đóng phí mua thẻ bảo hiểm y tế lên cao hơn mức 4,5% hiện nay để đảm bảo nguồn Quỹ: “Trước hết là sẽ căn cứ vào diễn biến chi Quỹ BHYT của năm 2016, dự báo tình hình đến 2017 và đến nửa cuối 2017 sẽ tính đến việc điều chỉnh mức phí tham gia bảo hiểm y tế ở mức nào. Các phương án sẽ được lập ra, sau đó quyết định phương án hợp lý nhất, đảm bảo cho Quỹ không bị vỡ…”
Ngoài việc bội chi Quỹ BHYT vào năm 2009, từ năm 2010 đến nay Quỹ này liên tục kết dư. Năm 2014 kết dư 5.200 tỷ đồng, năm 2015 kết dư khoảng 12.000 tỷ đồng. Từ năm nay, tình trạng bội chi xuất hiện trở lại và dự báo sẽ tiếp tục bội chi trong thời gian tới vì giá dịch vụ y tế đang tăng theo lộ trình, hướng đến tính đúng, tính đủ các yếu tố cấu thành giá. Do vậy, ngoài việc ngăn chặn tình trạng trục lợi BHYT cũng cần tính đến phương án tăng mức phí mua thẻ bảo hiểm y tế, đồng thời công khai, minh bạch và quản lý tốt nguồn kết dư Quỹ nhằm đảm bảo quyền lợi của người tham gia BHYT./.
Văn Hải/VOV – Trung tâm Tin

Công ty dịch vụ kế toán Hà Nội Chuyên cung cấp các loại dịch vụ kế toán như : 
Hotline: Mr Quân 0974 975 029 – 0941 900 994 Hỗ trợ: 24/7
[Read More...]


Hướng dẫn xử phạt khi bị mất hóa đơn gtgt



Mất hóa đơn giá trị gia tăng (hóa đơn đỏ, VAT) đầu ra – đầu vào bị phạt bao nhiêu. Đây là câu hỏi của nhiều bạn kế toán và Doanh nghiệp. KẾ TOÁN HÀ NỘI xin chia sẻ mức phạt khi làm mất hóa đơn giá trị gia tăng theo Thông tư số 10/2014/TT-BTC ngày 17/1/2014 của Bộ tài chính (có hiệu lực từ ngày 02/03/2014).

1. Nếu mất hóa đơn mà chưa làm thông báo phát hành:
Không xử phạt: Nếu khai báo trong vòng 5 ngày.
Phạt cảnh cáo: Nếu khai báo từ 6 – 10 ngày và có tình tiết giảm nhẹ. Nếu không có tình tiết giảm nhẹ thì phạt ở mức tối thiểu.
Phạt tiền từ 6.000.000 - 18.000.000đ: Nếu khai báo sau 10 ngày.
2. Nếu làm mất hóa đơn đi mua của cơ quan thuế:
Không xử phạt: Nếu làm mất hóa đơn đã mua nhưng chưa lập được khai báo với thuế trong vòng 5 ngày.
Phạt cảnh cáo: Nếu mất hóa đơn đã mua nhưng chưa lập khai báo với thuế từ ngày thứ 6 đến hết ngày thứ 10 và có tình tiết giảm nhẹ. Trường hợp không có tình tiết giảm nhẹ thì phạt 6.000.000 đồng.
Phạt tiền từ 6.000.000 - 8.000.000 đồng: Nếu mất hóa đơn đã mua nhưng chưa lập khai báo với cơ quan thuế sau ngày thứ 10.
3. Nếu mất hóa đơn GTGT đầu ra:
Phạt cảnh cáo: Nếu làm mất các liên hóa đã lập sai và đã xóa bỏ (và đã xuất hóa đơn khác thay thế)
Phạt tiền từ: 10.000.000 - 20.000.000đ:
- Làm mất liên 2 (liên giao cho khách hàng) nhưng KH chưa nhận được (dù hóa đơn đó đã lập hay chưa lập).
- Không lập hóa đơn khi bán hàng hóa có giá trị thanh toán từ 200.000 đồng trở lên.
Chú ý: Kể từ ngày 1/8/2016 theo Nghị định 49 sửa đổi, bổ sung:
Phạt tiền từ 4.000.000 đồng đến 8.000.000 đồng đối với một trong các hành vi:
- Không lập bảng kê hoặc không lập hóa đơn tổng hợp theo quy định của pháp luật về hóa đơn bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ;
- Làm mất, cháy, hỏng hóa đơn đã phát hành nhưng chưa lập hoặc hóa đơn đã lập (liên giao cho khách hàng) nhưng khách hàng chưa nhận được hóa đơn hoặc hóa đơn đã lập theo bảng kê bán lẻ hàng hóa, dịch vụ; trừ trường hợp mất, cháy, hỏng hóa đơn do thiên tai, hỏa hoạn hoặc do sự kiện bất ngờ, sự kiện bất khả kháng khác thì không bị xử phạt tiền.
Trường hợp mất, cháy, hỏng hóa đơn đã lập (liên giao cho khách hàng), người bán và người mua lập biên bản ghi nhận sự việc, người bán đã kê khai, nộp thuế, có hợp đồng, chứng từ chứng minh việc mua bán hàng hóa và có một tình Tiết giảm nhẹ thì xử phạt ở mức tối thiểu của khung tiền phạt; nếu có từ hai tình Tiết giảm nhẹ thì xử phạt cảnh cáo.
Trường hợp mất, cháy, hỏng hóa đơn, trừ liên giao cho khách hàng, trong thời gian lưu trữ thì xử phạt theo pháp luật về kế toán.
Trường hợp người bán tìm lại được hóa đơn đã mất (liên giao cho khách hàng) khi cơ quan thuế chưa ban hành quyết định xử phạt thì người bán không bị phạt tiền”.
Phạt tiền từ 20.000.000 - 50.000.000: Khi sử dụng hóa đơn bất hợp pháp
4. Hóa đơn đầu vào:
Phạt tiền từ 2.000.000 - 4.000.000đ: Nếu người mua làm mất hóa đơn liên 2 (đầu vào).
Chú ý: Kể từ ngày 1/8/2016 theo Nghị định 49 sửa đổi, bổ sung:
“1. Phạt tiền từ 4.000.000 đồng đến 8.000.000 đồng đối với hành vi làm mất, cháy, hỏng hóa đơn đã lập (liên giao cho khách hàng) để hạch toán kế toán, kê khai thuế và thanh toán vốn ngân sách; trừ trường hợp mất, cháy, hỏng hóa đơn do thiên tai, hỏa hoạn hoặc do sự kiện bất ngờ, sự kiện bất khả kháng khác thì không bị xử phạt tiền.
Trường hợp mất, cháy, hỏng hóa đơn đã lập (liên giao cho khách hàng), người bán và người mua lập biên bản ghi nhận sự việc, người bán đã kê khai, nộp thuế, có hợp đồng, chứng từ chứng minh việc mua bán hàng hóa và có một tình Tiết giảm nhẹ thì xử phạt ở mức tối thiểu của khung tiền phạt; nếu có từ hai tình Tiết giảm nhẹ thì xử phạt cảnh cáo.
Trường hợp người mua tìm lại được hóa đơn đã mất khi cơ quan thuế chưa ban hành quyết định xử phạt thì người mua không bị phạt tiền”.
Chú ý: Nếu cùng 1 thời điểm bạn thông báo mất nhiều số hóa đơn nhưng cơ quan thuế đủ căn cứ xác định DN bạn gộp nhiều lần mất hóa đơn thì xử phạt theo từng lần mất hóa đơn.
- Đây là mức phạt theo lần làm báo cáo nhé.
+ Nếu mất hóa đơn có liên quan đến bên thứ ba thì xử phạt bên đi thuê.

VD: Bên thứ ba do bên bán thuê thì xử phạt bên bán.
Công ty dịch vụ kế toán Hà Nội Chuyên cung cấp các loại dịch vụ kế toán như : 
Hotline: Mr Quân 0974 975 029 – 0941 900 994 Hỗ trợ: 24/7
[Read More...]


Quy định về thuế GTGT đối với hàng chào mẫu cho khách hàng 2016



Tổng cục Thuế đã có hướng dẫn vướng mắc về chính sách thuế GTGT đối với hàng chào mẫu cho khách hàng. Trường hợp cụ thể của Công ty cổ phần dệt may đầu tư thương mại Thành Công hoạt động lĩnh vực dệt may, chuyên may các mặt hàng thời trang để xuất khẩu, Công ty có thực hiện chương trình khuyến mại “Tặng, chào mẫu” sản phẩm do Công ty sản xuất cho khách hàng trong nước và nước ngoài như sau:
thanh-toan-tam-ung
Tại Điều 5 Thông tư số 219/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn về giá tính thuế GTGT như sau:
“5. Đối với sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại theo quy định của pháp luật về thương mại, giá tính thuế được xác định bằng không (0); trường hợp hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại nhưng không thực hiện theo quy định của pháp luật về thương mại thì phải kê khai, tính nộp thuế như hàng hóa, dịch vụ dùng để tiêu dùng nội bộ, biếu, tặng, cho.
Một số hình thức khuyến mại cụ thể được thực hiện như sau:
  1. a) Đối với hình thức khuyến mại đưa hàng mẫu, cung ứng dịch vụ mẫu để khách hàng dùng thử không phải trả tiền, tặng hàng hóa cho khách hàng, cung ứng dịch vụ không thu tiền thì giá tính thuế đối với hàng mẫu, dịch vụ mẫu được xác định bằng 0.
Tại khoản 9 Điều 3 Thông tư số 26/2015/TT-BTC ngày 27/2/2015 của Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung điểm 2.4 Phụ lục 4 Thông tư số 39/2014/TT-BTC ngày 31/3/2014 của Bộ Tài chính như sau:
“9. Sửa đổi, bổ sung điểm 2.4 Phụ lục 4 như sau:
“2.4. Sử dụng hóa đơn, chứng từ đối với hàng hóa, dịch vụ khuyến mại, quảng cáo, hàng mẫu, cho, biếu, tặng đối với tổ chức kê khai, nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ:
  1. a) Đối với sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại theo quy định của pháp luật về thương mại thì phải lập hóa đơn, trên hóa đơn ghi tên và số lượng hàng hóa, ghi rõ là hàng khuyến mại, quảng cáo, hàng mẫu và thực hiện theo hướng dẫn của pháp luật về thuế GTGT.
Đối với hàng hóa, dịch vụ dùng để cho, biếu, tặng, trao đổi, trả thay lương cho người lao động thì phải lập hóa đơn GTGT (hoặc hóa đơn bán hàng), trên hóa đơn ghi đầy đủ các chỉ tiêu và tính thuế GTGT như hóa đơn xuất bán hàng hóa, dịch vụ cho khách hàng.””
Tại Điều 7 Mục 2 Chương II Nghị định số 37/2006/NĐ-CP ngày 4/4/2006 quy định về các hình thức khuyến mại như sau:
“Điều 7. Đưa hàng mẫu, cung ứng dịch vụ mẫu để khách hàng dùng thử không phải trả tiền
  1. Hàng mẫu đưa cho khách hàng, dịch vụ mẫu cung ứng cho khách hàng dùng thử phải là hàng hóa, dịch vụ được kinh doanh hợp pháp mà thương nhân đang hoặc sẽ bán, cung ứng trên thị trường.
  2. Khi nhận hàng mẫu, dịch vụ mẫu, khách hàng không phải thực hiện bất kỳ nghĩa vụ thanh toán nào.
  3. Thương nhân thực hiện chương trình khuyến mại theo hình thức đưa hàng mẫu, cung ứng dịch vụ mẫu phải chịu trách nhiệm về chất lượng của hàng mẫu, dịch vụ mẫu và phải thông báo cho khách hàng đầy đủ thông tin liên quan đến việc sử dụng hàng mẫu, dịch vụ mẫu.”
Căn cứ quy định tại Điều 16 Mục 2 Chương II Nghị định số 37/2006/NĐ-CP ngày 4/4/2006 quy định về trình tự thủ tục đăng ký thực hiện khuyến mại.
Căn cứ hướng dẫn nêu trên và theo nội dung trình bày của Công ty cổ phần dệt may đầu tư thương mại Thành Công thì đề nghị Công ty liên hệ với Sở Công thương TP. Hồ Chí Minh hoặc Cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định chương trình khuyến mại tặng, chào mẫu sản phẩm nêu trên của Công ty có thực hiện đúng theo quy định của pháp luật về thương mại không?
Trên cơ sở kết quả xác định của Sở Công thương TP. Hồ Chí Minh hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền và căn cứ các quy định pháp luật về thuế GTGT, hóa đơn đề nghị Cục Thuế TP. Hồ Chí Minh hướng dẫn DN thực hiện kê khai thuế GTGT và lập hóa đơn GTGT đối với hàng hóa tặng, chào mẫu cho khách hàng theo quy định.
Theo Công văn số 4402/TCT-CS.
Nguồn: Tạp Chí Tài Chính
Công ty dịch vụ kế toán Hà Nội Chuyên cung cấp các loại dịch vụ kế toán như : 
Hotline: Mr Quân 0974 975 029 – 0941 900 994 Hỗ trợ: 24/7
[Read More...]


Áp dụng chuẩn mực kế toán quốc tế cho doanh nghiệp nhỏ và vừa



Hòa hợp với chuẩn mực kế toán quốc tế là điều tất yếu với bất kỳ quốc gia nào. Việt Nam cần sớm có những hành động để doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể phát triển không những ở thị trường trong nước mà còn vươn ra thị trường quốc tế với những thuận lợi nhiều hơn về mặt chính sách. Quá trình áp dụng Chuẩn mực kế toán quốc tế cho doanh nghiệp nhỏ và vừa cần sự chuẩn bị kỹ lưỡng và tham khảo cách thức, kinh nghiệm của các quốc gia. Từ việc phân tích một số vấn đề trong quá trình áp dụng chuẩn mực kế toán quốc tế cho doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Singapore và Malaysia, bài viết sẽ rút ra những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.​

Khái quát về chuẩn mực kế toán quốc tế cho doanh nghiệp nhỏ và vừa
Chuẩn mực kế toán quốc tế cho doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) đã được ban hành bởi Hội đồng Chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS8-) từ năm 2009 sau một quá trình chuẩn bị kỹ lưỡng. Hiện nay, hơn 80 khu vực pháp lý đã áp dụng Chuẩn mực kế toán quốc tế cho DNNVV hoặc đã công bố kế hoạch thực hiện.
Chuẩn mực kế toán quốc tế cho DNNVV được chia thành 35 phần, được thiết kế cho các công ty nhỏ, tập trung vào các nhu cầu của người cho vay, chủ nợ và người dùng khác với mối quan tâm chính là thông tin về luồng tiền, thanh khoản và khả năng thanh toán. Bộ tiêu chuẩn này gồm 230 trang được cho là ngắn gọn hơn nhiều so với Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) đầy đủ (hơn 3000 trang).
Chuẩn mực kế toán quốc tế cho DNNVV đơn giản hóa hơn so với IFRS đầy đủ: (1) Một số chủ đề trong IFRS đầy đủ được bỏ qua vì được cho là không điển hình với DNNVV, (2) Bỏ qua một số lựa chọn chính sách kế toán trong IFRS đầy đủ, (3) Đơn giản hóa trong ghi nhận và đo lường, (4) Yêu cầu về trình bày ít hơn (giảm khoảng 90 phần trăm so với IFRS đầy đủ), (5) Trình bày bằng tiếng Anh dễ hiểu và dễ dịch.
Trong quá trình thực hiện, IASB đã có nhiều hỗ trợ giúp thực hiện trơn tru và nghiêm ngặt các yêu cầu của Chuẩn mực kế toán quốc tế cho DNNVV. Các hỗ trợ IASB đang cung cấp miễn phí, bao gồm: Nội dung Chuẩn mực kế toán quốc tế cho DNNVV và Hướng dẫn thực hiện đi kèm các báo cáo tài chính minh họa, bản dịch của các tiêu chuẩn và các tài liệu kèm theo (25 ngôn ngữ), tài liệu đào tạo tự học toàn diện trong một số ngôn ngữ; Các hội thảo đào tạo khu vực được tổ chức trên toàn thế giới, tập trung vào nước đang phát triển và các nền kinh tế mới nổi, bản tin cập nhật Chuẩn mực kế toán quốc tế cho DNNVV miễn phí hàng tháng; Bản thuyết trình từ các hội thảo tập huấn và các tài liệu khác; Bản trình bày của các thành viên IASB và nhân viên về Chuẩn mực kế toán quốc tế cho DNNVV; Hướng dẫn cho các thực thể siêu nhỏ để khuyến khích áp dụng và giải thích các tiêu chuẩn.
Kinh nghiệm áp dụng Chuẩn mực kế toán quốc tế cho doanh nghiệp nhỏ và vừa
Singapore
Khác với Liên minh châu Âu (EU), Hồng Kông, Nhật Bản và Anh, Singapore không có sẵn một quy định riêng về báo cáo tài chính (BCTC) cho các tổ chức nhỏ. Đây là điểm giống với Việt Nam ở hiện tại và là lý do vì sao tác giả chọn Singapore là một điển hình cho bài viết này. Tất cả các công ty thành lập tại Singapore, bất kể quy mô hoặc mức độ lợi ích công cộng đều phải tuân thủ Luật công ty và Tiêu chuẩn BCTC Singapore (SFR), trong đó phần lớn được lấy từ IFRS đầy đủ.
Hội đồng Chuẩn mực Kế toán (ASC) đã nhận được phản hồi về những gánh nặng khi áp dụng Tiêu chuẩn BCTC Singapore ở nhiều công ty tư nhân nhỏ, sự khác biệt trong yêu cầu về mức độ và phạm vi công bố thông tin ở những người sử dụng BCTC. Hầu hết các ngân hàng khi xem xét liệu để mở rộng cho vay thì thường có xu hướng dựa vào sự đảm bảo cá nhân/tài sản đảm bảo được cung cấp bởi các giám đốc và/hoặc cổ đông của các công ty, chứ không phải là BCTC.
Năm 2008, ASC đã thành lập một nhóm chuyên trách xem xét khả năng ban hành quy định riêng về BCTC đối với các DNNVV tại Singapore. Với tất cả những lý do nêu trên thì hầu hết các ý kiến cho rằng cần thiết có một tiêu chuẩn riêng về BCTC cho DNNVV.
Tại Singapore, một cuộc tham vấn rộng rãi đã được thực hiện từ 12/5 – 30/6/2008 về các tiêu chí để một tổ chức được coi là DNNVV và áp dụng quy định riêng về BCTC. Nhiều ý kiến cho rằng cần làm rõ khái niệm “trách nhiệm công cộng” và một DNNVV cần đáp ứng 2 trong 3 tiêu chí: (1) Tài sản ròng không lớn hơn 15 triệu đô la Singapore; (2) Doanh thu hàng năm không quá 15 triệu đô la Singapore (3) Số lượng trung bình của người lao động không hơn 200. Tuy nhiên, khi xem xét lại thì các tiêu chuẩn trên phù hợp với nhóm công ty đang ở giai đoạn chuẩn bị niêm yết hơn. ASC đã tiến hành thảo luận tập trung với một nhóm công ty được chọn.
Tháng 3/2010, các tiêu chuẩn chính thức được ban hành. Một thực thể đủ điều kiện để sử dụng các tiêu chuẩn BCTC Singapore cho các thực thể nhỏ nếu đáp ứng các tiêu chí định tính và định lượng: không phải công khai trách nhiệm, công bố báo cáo tài chính nói chung mục đích cho người sử dụng bên ngoài và đáp ứng các nghĩa của một “thực thể nhỏ”.
Một thực thể hội đủ điều kiện như là một thực thể nhỏ nếu nó đáp ứng ít nhất 2 trong 3 tiêu chuẩn sau đây: (1) Tổng doanh thu hàng năm không quá 10 triệu đô la Singapore (khoảng 7,5 triệu USD); (2) Tổng tài sản không quá 10 triệu đô la Singapore (khoảng 7,5 triệu USD); (3) Tổng số lao động không quá 50 người. Doanh nghiệp sẽ phải thực hiện Tiêu chuẩn BCTC Singapore đầy đủ nếu không đáp ứng các tiêu chí trên trong 2 năm liên tiếp.
ASC cho rằng tiêu chí này là phù hợp để giảm thiểu các vấn đề không thể so sánh được trong khi cho phép ít nhất 80% các công ty tại Singapore đủ điều kiện sử dụng tiêu chuẩn BCTC Singapore. Như vậy, không phải tất cả các công ty Singapore đáp ứng định nghĩa “DNNVV” của IASB đều đủ điều kiện để sử dụng Tiêu chuẩn BCTC Singapore cho thực thể nhỏ.
Một văn bản thỏa thuận gồm những nội dung trên đã được ban hành với mục đích thông báo cho công chúng về việc có thể ban hành Tiêu chuẩn BCTC Singapore cho các thực thể nhỏ ở Singapore. Các thành viên của công chúng và các bên liên quan đều có thể gửi ý kiến về các dự định của ASC. Đến 30/11/2010, ASC đã ban hành Tiêu chuẩn BCTC cho các thực thể nhỏ (SFR cho các thực thể nhỏ). Tiêu chuẩn này có hiệu lực từ 01/01/2011.
Các Tiêu chuẩn BCTC Singapore cho thực thể nhỏ dựa trên Chuẩn mực kế toán quốc tế cho DNNVV, tuy nhiên, tài liệu tham khảo là Tiêu chuẩn BCTC Singapore thay vì IFRS. Nó có dung lượng các trang bằng khoảng 10% Tiêu chuẩn BCTC Singapore đầy đủ, được viết bằng tiếng Anh một cách dễ hiểu. Số lượng yêu cầu thuyết minh (đặc biệt là đối với công cụ tài chính) cũng được đơn giản hóa và giảm đáng kể.
Malaysia
Malaysia là một trong những nước đang phát triển ở châu Á. Trình độ phát triển kinh tế và đặc điểm DNNVV ở đây có nhiều điểm tương đồng với Việt Nam (chiếm 97,3% tổng số cơ sở kinh doanh tại Malaysia), phần lớn hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ, sản xuất và công trình xây dựng, được chia thành 3 nhóm là: siêu nhỏ, nhỏ, vừa. Hội đồng chuẩn mực kế toán Malaysia (MAS8-) là cơ quan chịu trách nhiệm ban hành chuẩn mực kế toán.
Trước khi áp dụng Chuẩn mực kế toán quốc tế cho DNNVV, ở Malaysia có 2 bộ tiêu chuẩn cho các tổ chức tư nhân: Chuẩn mực báo cáo cho thực thể tư nhân - Private Entity Reporting Standards (Pers) và Chuẩn mực báo cáo cho các đối tượng cá nhân - Malaysian Private Entities Reporting Standard (MPERS)
Năm 2013, một dự thảo tiếp xúc với những đề xuất sửa đổi chuẩn mực kế toán cho thực thể tư nhân được thực hiện. Một là, sẽ áp dụng một khuôn khổ BCTC riêng Chuẩn mực báo cáo cho các đối tượng cá nhân cho tất cả các tổ chức khu vực tư nhân, thay thế các Chuẩn mực báo cáo cho thực thể tư nhân. Hai là, sửa đổi Chuẩn mực kế toán quốc tế cho DNNVV trong 3 lĩnh vực: thuế thu nhập, bất động sản, miễn chuẩn bị BCTC hợp nhất.
Malaysia thay đổi những nội dung này với mục đích cung cấp thông tin hữu ích hơn cho người dùng, tăng khả năng so sánh với BCTC của các thực thể tư nhân ở các nước khác, giảm độ phức tạp, hoặc đề nghị IASB xem xét các yêu cầu khác trong Chuẩn mực kế toán quốc tế cho DNNVV hiện hành (yêu cầu về thuế thu nhập).
Tháng 02/2014, MASB đã ban hành “Chuẩn BCTC cho các tổ chức tư nhân, thực thể cá nhân Malaysia” (MPERs). Các đơn vị đủ điều kiện có thể lựa chọn áp dụng 1 trong 2 Tiêu chuẩn nêu trên hoặc Tiêu chuẩn Financial Reporting (SX, tương đương với IFRS). Tiêu chuẩn này có hiệu lực từ 01/01/2016. Các hướng dẫn tương tự như của IASB trong Chuẩn mực kế toán quốc tế cho DNNVV trừ yêu cầu về thuế thu nhập, hoạt động phát triển bất động sản và một số thay đổi trong thuật ngữ.
Tuy nhiên, tháng 05/2015, IASB công bố sửa đổi Chuẩn mực kế toán quốc tế cho DNNVV, vì vậy MASB cũng sửa đổi Chuẩn BCTC cho các tổ chức tư nhân, thực thể cá nhân cho tương ứng. Sau khi sửa đổi, những khác biệt giữa 2 bộ chuẩn mực về thuế thu nhập không còn nữa. Phiên bản 2014 vẫn áp dụng từ 01/01/2016, những nội dung sửa đổi sẽ áp dụng từ 01/01/2017. Động thái này cho thấy sự hòa hợp một cách tối đa nhất có thể, với mong muốn tiệm cận gần nhất với chuẩn mực kế toán quốc tế, không phải sự hòa hợp mang tính hình thức của Malaysia.
Điều này là hoàn toàn có lợi cho bản thân DNNVV khi cập nhật luôn Chuẩn BCTC cho các tổ chức tư nhân, thực thể cá nhân trước khi áp dụng vào 2016, “đón đầu” trong những quy định về thuế thu nhập cho thấy sự kết hợp chặt chẽ giữa MASB và IASB khi triển khai chuẩn mực kế toán quốc tế. Như vậy, tổ chức tư nhân có thể chọn khung kế toán như sau:
- Chuẩn mực báo cáo cho thực thể tư nhân - PERS: có hiệu lực đến 01/01/2016.
- Chuẩn mực báo cáo cho các đối tượng cá nhân - MPERS: có hiệu lực từ 01/01/2016.
- Chuẩn mực BCTC - SX: Được coi là đã hội tụ hoàn toàn với IFRS đầy đủ từ 2012 (bắt buộc với công ty niêm yết).
Kinh nghiệm cho Việt Nam
Sự hòa hợp với chuẩn mực kế toán và thông lệ quốc tế là một tất yếu trong xu thế toàn cầu hóa đang diễn ra ngày càng nhanh, sâu và toàn diện như hiện nay. Qua phân tích những vấn đề trong quá trình áp dụng Chuẩn mực kế toán quốc tế cho DNNVV tại Singapore và Malaysia, có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam như sau:
Một là, cần có lộ trình hòa hợp với chuẩn mực kế toán quốc tế một cách thận trọng, nên để các doanh nghiệp lớn (niêm yết) áp dụng IFRS đầy đủ trước. Cả Singapore và Malaysia đều áp dụng IFRS đầy đủ trước rồi mới đến Chuẩn mực kế toán quốc tế cho DNNVV. Đây là một thuận lợi bởi một số nội dung Chuẩn mực kế toán quốc tế cho DNNVV vẫn phải tham khảo chéo IFRS đầy đủ.
DNNVV hòa hợp với chuẩn mực kế toán quốc tế sau có phần hợp lý hơn bởi chúng vốn được coi là có trình độ quản lý, kế toán bị hạn chế. Khi đó, tài liệu tham khảo với DNNVV có thể không phải là IFRS đầy đủ nữa mà là chuẩn mực kế toán đã được điều chỉnh từ IFRS, sự tham khảo chéo này mang lại nhiều thuận lợi hơn cho doanh nghiệp (trường hợp Singapore tài liệu tham khảo cho DNNVV là SFR thay vì IFRS).
Hai là, nên xem xét chỉnh sửa Chuẩn mực kế toán quốc tế cho DNNVV cho phù hợp với đặc điểm nền kinh tế Việt Nam. Thực tế cho thấy, Chuẩn mực kế toán quốc tế cho DNNVV như một ngôn ngữ kinh doanh chung trên toàn cầu. Nó giúp cho thông tin có thể so sánh được trên diện rộng, song, không phải là phù hợp hoàn toàn với tất cả các nước có trình độ phát triển kinh tế và chuẩn mực kế toán khác nhau. Cần hướng đến mục đích giúp cho thông tin hữu ích hơn cho người dùng, giảm độ phức tạp, hoặc đề nghị IASB xem xét các yêu cầu khác trong Chuẩn mực kế toán quốc tế cho DNNVV hiện hành (yêu cầu về thuế thu nhập – trường hợp Malaysia).
Ba là, sự hòa hợp cần toàn diện và triệt để nhất có thể, thậm chí là đón đầu. Phiên bản năm 2014 ở Malaysia trước khi có hiệu lực vào 01/01/2016 đã được sửa đổi cho phù hợp với những thay đổi của Chuẩn mực kế toán quốc tế cho DNNVV trong thời gian đó (IASB sửa đổi năm 2015). Những sự khác biệt về thuế thu nhập trong phiên bản 2014 của Malaysia chính là những nội dung đề nghị IASB xem xét chỉnh sửa Chuẩn mực kế toán quốc tế cho DNNVV.
Sau khi chỉnh sửa thì những khác biệt về thuế thu nhập không còn nữa. Điều này cho thấy sự phối kết hợp chặt chẽ giữa MASB và IASB, giúp tiết kiệm chi phí cho những nước triển khai chuẩn mực kế toán quốc tế và tạo sự thuận tiện cho DNNVV khi tiếp cận chuẩn mực này. Bản thân IASB cũng cắt bớt được “độ trễ” trong quá trình hỗ trợ các nước thông qua Chuẩn mực kế toán quốc tế cho DNNVV sửa đổi.
Bốn là, cần làm rõ những thuật ngữ quan trọng để những rào cản về ngôn ngữ không làm ảnh hưởng đến phạm vi áp dụng và nội dung của chuẩn mực. Điều này là rất quan trọng với Việt Nam khi IFRS đầy đủ chưa được áp dụng, tiếng Anh không phải là thứ ngôn ngữ phổ biến và hệ thống Luật pháp còn chưa phát triển.
Tài liệu tham khảo:
1. ASC (2007), Proposed finacial reporting standard;
2. Deloite (2010), Statement of Intent – SFRS for Small Entities;
3. Lim Ju May & Ang Sun Lii (2014), SFRS for Small Entities – Why Not Jump On The Bandwagon?, IS Chartered Accountant, (pg 50-53);
4. Deloite (2015), Malaysia adopts framework for SMEs;
5. IASB (2016), Chuẩn mực kế toán quốc tế cho DNNVV;
6. Deloite (2013), New proposals for private entity reporting in Malaysia.
Bài đăng trên tạp chí Tài chính kỳ I tháng 9/2016
ThS. Nguyễn Thị Phương Thảo


Công ty dịch vụ kế toán Hà Nội Chuyên cung cấp các loại dịch vụ kế toán như : 
Hotline: Mr Quân 0974 975 029 – 0941 900 994 Hỗ trợ: 24/7
[Read More...]


Hướng dẫn cách xử lý chứng từ về chi phí máy bay



Chi phí máy bay là chi phí thường gặp tại doanh nghiệp. Xử lý chứng từ để chi phí máy bay hợp lý, hợp lệ là nhiệm vụ của kế toán cần làm. Kế toán Hà Nội hướng dẫn các bạn cách xử lý chứng từ với chi phí máy bay như sau:

I. Quy định áp dụng với chi phí máy bay.
1. Quy định về khấu trừ thuế GTGT đầu vào
Tại khoản 1, Khoản 2 Điều 15 Thông tư số 219/2013/TT-BTC của Bộ tài chính quy định điều kiện khấu trừ thuế GTGT đầu vào:
1. Có hóa đơn GTGT hợp pháp của hàng hóa, dịch vụ mua vào hoặc chứng từ nộp thuế GTGT khâu nhập khẩu…
2. Có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt đối với hàng hóa, dịch vụ mua vào ( vao gồm cả hàng hóa nhập khẩu) từ hai mươi triệu đồng trở lên, trừ trường hợp tổng giá trị hàng hóa, dịch vụ mua vào từng lần theo hóa đơn dưới hai mươi triệu đồng theo giá đã có thuế GTGT.
Chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt gồm chứng từ thanh toán qua ngân hàng và chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt khác hướng dẫn tại khoản 3 và khoản 4 Điều này…”
2. Quy định về tính chi phí hợp lý của chi phí máy bay để tính thuế TNDN.
Tại Khoản 1 Điều 6 Thông tư số 78/2014/TT-BTC ngày 18/6/2014 quy định:
1. "Trừ các khoản chi không được trừ nêu tại Khoản 2 Điều này, doanh nghiệp được trừ mọi khoản chi nếu đáp ứng đủ các điều kiện sau:
a. Khoản chi thực tế phát sinh liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp;
b. Khoản chi có đủ hóa đơn, chứng từ hợp pháp theo quy định của pháp luật.
c. Khoản chi nếu có hóa đơn mua hàng hóa, dịch vụ từng lần có giá trị từ 20 triệu đồng trở lên (giá đã bao gồm thuế GTGT) khi thanh toán phải có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt.
Chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt thực hiện theo quy định của các văn bản pháp luật về thuế GTGT…"
Tại điểm 8 Khoản 2 Điều 6 Thông tư số 78/2014/TT-BTC quy định:
Trường hợp doanh nghiệp có mua vé máy bay qua website thương mại điện tử cho người lao động đi công tác để phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thì chứng từ làm căn cứ để tính vào chi phí được trừ là vé máy bay điện tử, thẻ lên máy bay (boarding pass) và chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt của doanh nghiệp có cá nhân tham gia hành trình vận chuyển. Trường hợp doanh nghiệp không thu hồi được thẻ lên máy bay của người lao động thì chứng từ làm căn cứ để tính vào chi phí được trừ là vé máy bay điện tử, giấy điều động đi công tác và chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt của doanh nghiệp có các nhân tham gia hành trình vận chuyển.
II. Hồ sơ chứng từ đối với chi phí máy bay.
Trường hợp 1: Doanh nghiệp mua vé máy bay qua website thương mại điện tử, vẫn giữ được cùi vé (boarding pass)
Trong đó: Cùi vé là thẻ lên máy bay, có một số hãng trả lại thẻ lên máy bay, một số hãng thì sẽ thu hồi.
Chứng từ trong trường hợp này bao gồm:
• Vé máy bay điện tử
• Thẻ lên máy bay (boarding pass)
• Chứng từ thanh toán: Tiền mặt hoặc chuyển khoản đều được
• Hóa đơn vé máy bay
• Quyết định cử đi công tác
Trường hợp 2: Doanh nghiệp mua vé máy bay qua website thương mại điện tử, nhưng không có cùi vé.
Chứng từ bao gồm:
• Quyết định cử đi công tác
• Chứng từ thanh toán qua ngân hàng
• Hóa đơn vé máy bay
Lưu ý: Trong trường hợp này bắt buộc phải thanh toán bằng chuyển khoản.
Trường hợp 3: Doanh nghiệp giao cho cá nhân đi công tác tự mua vé máy bay.
Lưu ý: Trong trường hợp này người lao động phải thanh toán bằng thẻ ATM hoặc thẻ tín dụng mang tên cá nhân, sau đó về thanh toán lại với DN.
Chứng từ trong trường hợp này bao gồm:
• Vé máy bay.
• Cùi vé máy bay (có hoặc không)
• Các giấy tờ liên quan đến việc điều động người lao động đi công tác có xác nhận của DN, quy định của DN cho phép người lao động thanh toán công tác phí bằng thẻ cá nhân do người lao động được cử đi công tác là chủ thẻ và thanh toán lại với DN.
• Chứng từ thanh toán tiền vé của DN cho cá nhân mua vé.
• Chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt của cá nhân
Thông tin chú ý về chi phí vé máy bay:
Kể từ ngày 6/8/2015 Theo khoản 2.9 điều 4 Thông tư 96/2015/TT-BTC:
Quy định về khoản chi phụ cấp cho người lao động đi công tác:
• Bỏ mức khống chế đối với khoản chi phụ cấp cho người lao động đi công tác, DN được tính vào chi phí được trừ nếu có hóa đơn, chứng từ theo quy định.
• Nếu DN có khoán phụ cấp cho người lao động đi công tác và thực hiện đúng theo quy chế tài chính hoặc quy chế nội bộ của DN thì được tính vào chi phí được trừ khoản chi khoán.
III. Cách hạch toán chi phí vé máy bay
Căn cứ vào cuống vé máy bay và mục đích công tác của việc đi máy bay, kế toán hạch toán vào tài khoản chi phí liên quan
Nợ TK 641: Chi phí bán hàng
Nợ TK 642: Chi phí quản lý doanh nghiệp
Nợ TK 133: Thuế GTGT đầu vào được khấu trừ

Có TK 111,112:
Công ty dịch vụ kế toán Hà Nội Chuyên cung cấp các loại dịch vụ kế toán như : 
Hotline: Mr Quân 0974 975 029 – 0941 900 994 Hỗ trợ: 24/7
[Read More...]


Quy định đóng dấu trên hóa đơn mới nhất



Theo phản ánh của ông Vũ Văn Bình (TP. Hà Nội), căn cứ phân cấp quản lý thì Giám đốc (người đại diện theo pháp luật) sẽ có văn bản ủy quyền cho các Phó Giám đốc, các Trưởng phòng hoặc Trưởng các đơn vị trực thuộc ký hóa đơn GTGT bán hàng.
Tuy nhiên, tại doanh nghiệp của ông Bình, do số lượng hóa đơn GTGT lớn và phân cấp cho nhiều bộ phận sử dụng nên doanh nghiệp đóng trước dấu treo bằng dấu mộc tròn lên tất cả các hóa đơn chưa phát hành. Khi xuất hóa đơn bán hàng, các thông tin trên hóa đơn sẽ được ghi đầy đủ, trình ký Thủ trưởng đơn vị và giao cho khách hàng.

Ông Bình hỏi, trường hợp các hóa đơn nêu trên thể hiện tiêu thức "Thủ trưởng đơn vị (ký, đóng dấu, ghi rõ họ tên)" là Giám đốc ký và đóng dấu chức danh, không đóng dấu tròn lên chữ ký; những người được Giám đốc ủy quyền ký và đóng dấu chức danh, không đóng dấu tròn lên chữ ký thì các hóa đơn này có được coi là hợp lệ không?
Về vấn đề này, Bộ Tài chính có ý kiến như sau:
Căn cứ Khoản 4, Điều 19 và Khoản 1, Điều 20 Luật Kế toán số03/2003/QH11 ngày 17/6/2003 về việc lập và ký chứng từ kế toán.
Căn cứ Điểm 2.2, Mục 3 Thông tư liên tịch số 07/2002/TTLT-BCA-BTCCBCP ngày 6/5/2002 hướng dẫn về quản lý và sử dụng con dấu: “Con dấu chỉ được đóng lên các văn bản, giấy tờ sau khi các văn bản, giấy tờ đó đã có chữ ký của cấp có thẩm quyền gồm: cấp trưởng, cấp phó hoặc cấp dưới trực tiếp được uỷ quyền của cơ quan, tổ chức đó; không được đóng dấu vào văn bản, giấy tờ không có nội dung, đóng dấu trước khi ký”.
Theo hướng dẫn tại Điểm d, Khoản 2, Điều 16 Thông tư số39/2014/TT-BTC ngày 31/3/2014 của Bộ Tài chính, “Tiêu thức “người bán hàng (ký, đóng dấu, ghi rõ họ tên)”
Trường hợp thủ trưởng đơn vị không ký vào tiêu thức người bán hàng thì phải có giấy ủy quyền của thủ trưởng đơn vị cho người trực tiếp bán ký, ghi rõ họ tên trên hóa đơn và đóng dấu của tổ chức vào phía trên bên trái của tờ hóa đơn”.
Từ căn cứ nêu trên, về nguyên tắc khi bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ bên bán phải lập hóa đơn giao cho khách hàng và phải phản ánh đầy đủ chỉ tiêu trên hóa đơn. Tại tiêu thức “người bán hàng (ký, đóng dấu, ghi rõ họ tên)” thì thủ trưởng đơn vị của bên bán phải ký, ghi rõ họ tên và đóng dấu (nếu có) đầy đủ theo quy định.
Nếu trên mẫu hóa đơn của doanh nghiệp đã làm thủ tục thông báo phát hành với cơ quan thuế có các tiêu thức “người bán hàng (ký, đóng dấu, ghi rõ họ tên)” và "Thủ trưởng đơn vị (ký, đóng dấu, ghi rõ họ tên)" thì thực hiện như sau:
- Giám đốc của doanh nghiệp ký trực tiếp vào tiêu thức "Thủ trưởng đơn vị" thì con dấu của doanh nghiệp được đóng trực tiếp tại tiêu thức này.
- Trường hợp doanh nghiệp có nhiều bộ phận bán hàng nên Giám đốc của doanh nghiệp không trực tiếp ký vào chỉ tiêu "Thủ trưởng đơn vị" mà ủy quyền cho người khác ký thay trên hóa đơn thì phải có giấy ủy quyền theo đúng quy định của pháp luật dân sự.
Trước khi người được ủy quyền ký tại chỉ tiêu "Thủ trưởng đơn vị" phải ghi rõ "TUQ" trước tiêu thức "Thủ trưởng đơn vị", người được ủy quyền tại tiêu thức này, ghi rõ họ tên và đóng dấu của doanh nghiệp vào phía trên bên trái của tờ hóa đơn.
Trường hợp Giám đốc ủy quyền cho Phó Giám đốc, hoặc Trưởng các bộ phận, phòng ban ký, đóng dấu của doanh nghiệp trên hóa đơn và chịu trách nhiệm thay Giám đốc khi lập hóa đơn bán hàng, con dấu của đơn vị được đóng trực tiếp tại tiêu thức "Thủ trưởng đơn vị".

Khi lập hóa đơn, doanh nghiệp không được vừa đóng dấu vào phía trên bên trái của tờ hóa đơn, vừa đóng dấu trực tiếp tại tiêu thức "Thủ trưởng đơn vị".
Công ty dịch vụ kế toán Hà Nội Chuyên cung cấp các loại dịch vụ kế toán như : 
Hotline: Mr Quân 0974 975 029 – 0941 900 994 Hỗ trợ: 24/7
[Read More...]


"Hô biến" chi phí - Thủ thuật mà DN sử dụng để biến tấu lợi nhuận



Đã qua rồi thời kỳ nhà đầu tư chỉ "cắm đầu" mua bán cổ phiếu theo những lời "phím hàng". Bây giờ, các nhà đầu tư đều chủ động tìm hiểu, nghiên cứu báo cáo tài chính của doanh nghiệp, ít nhất là để có một cái nhìn khái quát về món hàng mà mình chọn mua. Thế nhưng không phải ai cũng có thể nắm bắt được những con số khô khan đó, chưa kể nhiều doanh nghiệp còn có những thủ thuật để phù phép số liệu vì mục đích riêng.

Chuỗi bài về các thủ thuật tài chính sẽ cố gắng diễn giải những "thủ thuật " trên BCTC một cách đơn giản nhất nhằm đem lại cho NĐT phổ thông những kiến thức cơ bản và có quyết định sáng suốt khi chọn lựa cổ phiếu.
Đặc tính tuyệt vời của chiếc đệm hơi chính là có thể thổi phồng lên hay thả xẹp xuống tùy theo ý thích người dùng. Sở dĩ so sánh chi phí như một chiếc đệm bởi lẽ doanh nghiệp cũng hoàn toàn có thể dựa vào một số thủ thuật mà đẩy phồng hoặc thu nhỏ chi phí, làm một chiếc đệm hơi êm ái giúp giảm thiểu thương tích lên lợi nhuận trong những cú ngã đau của doanh thu.
Tiếp nối bài viết về “Những thủ thuật phù phép doanh thu”, nội dung lần này xoay quanh biện pháp thứ hai mà doanh nghiệp vẫn thường sử dụng để biến tấu lợi nhuận, đó chính là “Hô biến chi phí”.
Hô biến nhờ các ước tính trích trước trong kế toán
Hẳn các bạn vẫn còn nhớ ước tính kế toán đã hỗ trợ đắc lực như thế nào cho việc thổi phồng doanh thu. Với chi phí, biện pháp này cũng hữu hiệu không kém. Trong quá trình lập báo cáo tài chính, các công ty thường phải sử dụng rất nhiều các ước tính kế toán (Accrual) như trích lập dự phòng nợ khó đòi, trích lập giảm giá hàng tồn kho, trích lập các khoản lương thưởng,…
Tuy nhiên trong giai đoạn phát triển khó khăn, doanh nghiệp thường có xu hướng “lờ đi” không trích lập các khoản chi phí này. Một ví dụ điển hình đó là đối với các công ty sản xuất xi măng thì luôn có khoản trích trước đều đặn cho chi phí sửa chữa lớn lò nung. Tuy nhiên nếu kết quả lợi nhuận không như mong đợi, các đơn vị này sẽ giảm xuống mức trích thấp hơn so với ngân sách đề ra.
Vốn hóa thành tài sản thay vì ghi nhận chi phí
Dựa trên hướng dẫn của chuẩn mực kế toán, một số loại chi phí nếu đem lại được lợi ích trong tương lai và thỏa mãn một số điều kiện nhất định thì sẽ được ghi nhận như tài sản và phân bổ dần trong nhiều năm. Cụ thể như chuẩn mực số 03 - Tài sản cố định hữu hình quy định: “Các chi phí phát sinh sau ghi nhận ban đầu TSCĐ hữu hình được ghi tăng nguyên giá của tài sản nếu chúng thực sự cải thiện trạng thái hiện tại so với trạng thái tiêu chuẩn ban đầu của tài sản đó”.
Cụm từ “cải thiện trạng thái” đã được chuẩn mực giải thích rõ hơn bằng một trong ba dấu hiệu là tăng thời gian sử dụng hữu ích, tăng chất lượng sản phẩm hoặc giúp giảm chi phí hoạt động của tài sản. Tuy nhiên công tác đánh giá lại phụ thuộc phần nhiều vào các nhân tố trong nội bộ doanh nghiệp.
Bên cạnh đó các doanh nghiệp còn thường xuyên treo các khoản chi vào tài khoản chi phí trả trước. Lợi ích của biện pháp này chính là cùng một khoản chi phí nay được phân bổ trong nhiều kỳ sau đó thay vì phải ghi nhận ngay lập tức trong năm tài chính hiện tại.
Biến tấu chi phí khấu hao
Khấu hao luôn là một trong những chi phí trọng yếu trong hoạt động của doanh nghiệp, đặc biệt là các đơn vị sản xuất sở hữu nhiều máy móc, nhà xưởng. Biến tấu chi phí khấu hao rất được ưa chuộng khi lập báo cáo tài chính nhờ khả năng khó phát hiện của nó. Doanh nghiệp đơn giản chỉ cần thay đổi thời gian khấu hao của tài sản, từ đó lượng khấu hao trong mỗi năm sẽ tăng, giảm tùy theo. Dù đã được quy đinh rất rõ ràng tại điều 10, thông tư 45/2013/TT-BTC, văn bản Hướng dẫn chế độ quản lý, sử dụng và trích lập khấu hao tài sản”, rằng mỗi tài sản chỉ được phép thay đổi thời gian trích khấu hao một lần tuy nhiên quá trình giám sát áp dụng luật trên thực tế vẫn là chưa đủ sát sao nếu số liệu báo cáo tài chính của đơn vị không được kiểm toán một cách chặt chẽ.
Ngoài những phương pháp điển hình nêu trên, một thủ thuật đặc thù dành riêng cho doanh nghiệp sản xuất là lợi dụng tỷ lệ phân bổ chi phí sản xuất giữa hàng tồn kho và giá vốn.
Một cách dễ hiểu, các chi phí sản xuất trong kỳ trước tiên sẽ được tập hợp vào giá trị thành phẩm – khoản mục tài sản trên bảng cân đối kế toán, sau đó khi bán đi các thành phẩm này sẽ được chuyển hóa thành chi phí giá vốn trên báo cáo kết quả kinh doanh.
Vì vậy, với mục đích đẩy cao tài sản tại thời điểm lập báo cáo và giảm thấp chi phí giá vốn trong kỳ thì doanh nghiệp sẽ có xu hướng cố gắng ghim tất cả các khoản chi phí xuống ghi nhận vào cuối kỳ để có thể giữ lại giá trị chi phí trong lượng thành phẩm tồn kho chưa kịp bán trong khi thực tế những chi phí này đã được tiêu hao vào những hàng hóa sản xuất trước đó và lẽ ra được ghi nhận là giá vốn.
Đối mặt với rất nhiều các thủ thuật tinh vi nhằm làm đẹp “bức tranh tài chính” của doanh nghiệp, trong khi lượng thông tin trong tay lại còn hạn chế là một trở ngại lớn cho nhà đầu tư để có thể phát hiện ra các biến tấu trên báo cáo kết quả kinh doanh. Trong hoàn cảnh đó, thông tư 200/2014/TT-BTC được áp dụng từ năm 2015 yêu cầu tất cả các thuyết minh chi phí quản lý doanh nghiệp, chi phí bán hàng, chi phí sản xuất kinh doanh phải chi tiết tới từng tiểu mục có giá trị lớn trên 10% tổng chi phí.
Điều đó nghĩa là chi phí sẽ được bóc nhỏ hơn nữa theo loại bản chất như: Chi phí khấu hao, chi phí lương, chi phí mua ngoài,.. giúp cung cấp thêm thông tin vô cùng hữu ích cho người dùng báo cáo. Nhà đầu tư chỉ cần so sánh số liệu qua các năm của doanh nghiệp theo những mục chi phí nhỏ này cũng đã có thể nhìn ra các biến động tăng giảm bất thường trong ghi nhận chi phí, từ đó xét đoán khả năng lợi nhuận có đang bị “phù phép” hay không.
Thanh Tâm
Theo Trí thức trẻ


Công ty dịch vụ kế toán Hà Nội Chuyên cung cấp các loại dịch vụ kế toán như : 
Hotline: Mr Quân 0974 975 029 – 0941 900 994 Hỗ trợ: 24/7
[Read More...]


Các sai sót thường gặp của kế toán rút ra từ các kỳ quyết toán thuế



Có những "lỗi" kế toán lập đi lập lại dẫn đến việc bị xuất toán chi phí, làm gia tăng các khoản phạt và truy thu thuế. Bài viết tập hợp 17 "sai sót" thường gặp của kế toán bị phát hiện trong các kỳ quyết toán thuế

1. Các khoản chi dịch vụ ăn uống tiếp khách:
- Qua khảo sát, các hóa đơn dịch vụ ăn uống tiếp khách trong các năm 2012 – 2015 còn tồn tại các sai sót sau:
+ Tên hàng hóa, dịch vụ: “Tiếp khách”. Theo quy định tại Quyết định về mã ngành nghề đăng ký kinh doanh thì không có ngành nghề “Tiếp khách” mà chỉ có Dịch vụ ăn uống (Đa phần các Hóa đơn bán hàng thông thường của Hộ kinh doanh mắc các lỗi này)
+ Các hóa đơn có ghi Tên hàng hóa, dịch vụ là: Dịch vụ ăn uống hoặc Ăn uống tiếp khách, Cơm tiếp khách…thì chỉ ghi chung chung, không đính kèm Bảng kê chi tiết các món ăn, đồ uống.
Theo các công văn hướng dẫn của chi cục thuế, cục thuế thì “ Các chi phí tiếp khách trong hóa đơn phải ghi rõ: Mặt hàng: Dịch vụ ăn uống và kèm theo bảng kê các món ăn, đồ uống…(theo Quy định về Các chỉ tiêu trong hóa đơn bán hàng và cung cấp dịch vụ, các trường hợp xuất hóa đơn kèm Bảng kê và Thông tư số 219/2014/TT-BTC hướng dẫn quy định chi tiết về thuế GTGT (điều kiện khấu trừ thuế); Thông tư số 78/2014/TT-BTC quy định chi tiết về thuế Thu nhập doanh nghiệp (điều kiện ghi nhận Chi phí được trừ)). Do vậy, các hóa đơn chưa thực hiện đúng quy định sẽ rủi ro cao về thuế.
Ngoài ra, thời điểm từ năm 2012 – 2014 các khoản ăn uống tiếp khách phát sinh tương đối nhiều. Theo quy định của Luật thuế TNDN thì các khoản chi phí tiếp tân, tiếp khách, lễ hội, khánh tiết, marketing, khuyến mại, quảng cáo…không vượt quá 15% tổng chi phí (Không bao gồm các khoản chi phí nêu trên). Tổng chi phí đối với hoạt động thương mại, tổng số chi được trừ không bao gồm giá mua của hàng hóa bán ra. Đối với hàng hóa nhập khẩu thì giá mua của hàng hóa bán ra bao gồm thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế bảo vệ môi trường (nếu có).
2. Các hóa đơn cước vận chuyển:
Tại thời điểm khảo sát, kế toán đơn vị chưa cung cấp được các Hợp đồng vận chuyển, Bảng kê cước vận chuyển…Khi cơ quan thuế thanh kiểm tra, nếu không cung cấp được các chứng từ chứng minh các khoản chi phí cước vận chuyển là khoản chi thực tế phát sinh, phục vụ hoạt động SXKD, chứng minh cung đường đi – đến, số lượng hàng hóa vận chuyển…thì các hóa đơn này sẽ bị loại thuế GTGT, truy thu thuế TNDN. Doanh nghiệp, cần rà soát, bổ sung các giấy tờ trên để đảm bảo lợi ích của doanh nghiệp.
3. Chi phí xăng xe:
Trong năm 2012 - 2015, đơn vị có ghi nhận chi phí được trừ và kê khai khấu trừ thuế VAT đầu vào của các hóa đơn xăng xe. Chi phí xăng xe phát sinh khá nhiều (cao nhất khoảng xxx tr đồng/ năm) có thực sự hợp lý đối với tiêu hao nhiên liệu của 1 xe ô tô (khoảng 4 – 6 lít xăng/ 100 km)? Doanh nghiệp cần xây dựng Nhật trình xe phục vụ, ghi rõ quãng đường đi đến, chỉ số công tơ mét, tình trạng xe, nhiên liệu…để quản lý chi phí và tránh các rủi ro bị loại thuế GTGT, chi phí được trừ khi Cơ quan thuế thanh kiểm tra.
4. Trích khấu hao TSCĐ:
- Kế toán doanh nghiệp thực hiện trích khấu hao TSCĐ là xe ô tô không nhất quán (có sự tăng về giá trị trích khấu hao giữa các năm 2012 – 2014 với 2015), không tuân thủ theo hướng dẫn tại Thông tư số 45/2013/TT-BTC hướng dẫn về khấu hao TSCĐ (thay thế Thông tư 203/2012/TT-BCT): Khung thời gian khấu hao là từ 8 – 12 năm (Doanh nghiệp trích khấu hao trong 84 tháng); Mức trích khấu hao theo phương pháp đường thằng: giá trị khấu hao các năm phải nhất quán.
5. Nghiệp vụ chuyển tài sản cố định sang Công cụ, dụng cụ do không đủ điều kiện ghi nhận là TSCĐ theo Thông tư số 45/2013/TT-BTC hướng dẫn về khấu hao TSCĐ ( thay thế Thông tư 203/2012/TT-BCT):
Doanh nghiệp có mua sắm TSCĐ là máy điều hòa nhiệt độ với nguyên giá khoảng hơn 10 tr đồng (Theo quy định tại Thông tư 203/2012/TT-BTC thì nguyên giá TSCĐ cố định là 1 tiêu chuẩn để ghi nhận TSCĐ hữu hình phải có giá trị từ 10 tr đồng trở lên) nhưng đến thời điểm Thông tư số 45/2013/TT-BTC hướng dẫn về khấu hao TSCĐ (có hiệu lực từ 10/06/2013 và điều chỉnh nguyên giá TSCĐ hữu hình có giá trị từ 30 tr đồng trở lên) kế toán không thực hiện điều chuyển sang CCDC để phân bổ mà vẫn trích khấu hao.
Ngoài ra, việc phân loại TSCĐ chưa đúng bản chất của loại tài sản. TK 21112: máy móc thiết bị chỉ dùng cho các doanh nghiệp sản xuất..và với các loại máy văn phòng nên đưa vào TK 21114: Thiết bị văn phòng.
6. Chi phí lương của Chủ sở hữu Công ty TNHH 1 TV do cá nhân làm chủ:
Trích: Tại tiết d, điểm 2.5, khoản 2, Điều 6 Thông tư số 78/2014/TT-BTC ngày 18/6/2014 của Bộ Tài chính, có hiệu lực từ ngày 02/08/2014, áp dụng từ kỳ tính thuế TNDN năm 2014 trở đi và thay thế cho Thông tư số 123/2012/TT-BTC ngày 27/07/2012, hướng dẫn các khoản chi không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp bao gồm:
"d) Tiền lương, tiền công của chủ doanh nghiệp tư nhân, chủ công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên (do một cá nhân làm chủ); thù lao trả cho các sáng lập viên, thành viên của hội đồng thành viên, hội đồng quản trị mà những người này không trực tiếp tham gia điều hành sản xuất, kinh doanh.”
Tuy nhiên, trong các năm 2012 – 2015 kế toán đơn vị vẫn ghi nhận Chi phí tiền lương của Chủ sở hữu Công ty vào Chi phí được trừ khi xác định thuế TNDN phải nộp. Khoản chi này sẽ bị truy thu và tính tiền chậm nộp khi cơ quan thuế thanh kiểm tra.
(Tham khảo thêm tại Công văn số 7278/Ct-Htr ngày 26/11/2015 do Cục thuế HN ban hành)
7. Các bút toán phân bổ CCDC, trích khấu hao TSCĐ:
Trong năm 2012, kế toán đơn vị thực hiện không nhất quán, không liên tục, có tháng phân bổ và trích khấu hao, có tháng không thực hiện (Tháng 8/2012 có trích khấu hao nhưng Tháng 9 – 12/2012 không thực hiện, Từ Tháng 1 – 6/2013 không trích khấu hao, không phân bổ chi phí trả trước). Như vậy không chỉ sai sót về mặt kế toán mà còn ảnh hưởng đến quyền lợi của doanh nghiệp.
8. Bút toán kết chuyển thuế GTGT cuối kỳ:
- Doanh nghiệp nên thực hiện Bút toán kết chuyển thuế GTGT tương ứng với kỳ khai thuế GTGT ( theo tháng hoặc theo quý) chứ không nên thực hiện Bút toán này vào thời điểm cuối năm tài chính.
- Trong năm 2014, kế toán đơn vị có thể thực hiện sai Bút toán kết chuyển thuế GTGT. Số liệu TK 133: Thuế GTGT được khấu trừ: Dư đầu kỳ: 0; Số phát sinh Nợ: xxx.xxx.xxx đồng; Số phát sinh Có (kết chuyển sang TK 3331: Thuế GTGT đầu ra phải nộp):x xx.xxx.xxxđồng => Vô lý, không thể kết chuyển vượt quá số thuế GTGT được khấu trừ.
9. Các khoản vay và chi phí lãi vay:
- Tại thời điểm 31/12 các năm tài chính TK 111 (tiền mặt) luôn tồn quỹ khoảng hơn x tỷ - hơn x tỷ nhưng Doanh nghiệp lại đi vay ngắn hạn và chi trả lãi vay (năm 2014 là xxxxxxxxx đồng). Như vậy có thực sự hợp lý? Số liệu kế toán có phản ánh đúng thực trạng hoạt động SXKD của đơn vị không? Và một người kế toán có kinh nghiệp có nên để các thông tin như vậy cho các cơ quan chức năng?
- Với sai sót trên, cơ quan thuế có thể nghi ngờ doanh nghiệp góp vốn ảo, khống (Luật doanh nghiệp nghiêm cấm hành vi góp vốn khống và có chế tài xử phạt) và bị loại chi phí lãi vay theo quy định của Luật thuế TNDN.
10. Các khoản chi hội nghị khách hàng (xxxxtr đồng) phân bổ ghi nhận vào Chi phí trả trước và phân bổ:
Cơ quan thuế chỉ chấp nhận các khoản chi này khi có đầy đủ các hồ sơ sau:
+ Kế hoạch thực hiện hội nghị khách hàng được cấp thẩm quyền phê duyệt ( Dự trù kinh phí, số lượng khách mời, mục đích thực hiện…)
+ Hợp đồng, hóa đơn, chứng từ thanh toán (nêu rõ kinh phí, địa điểm, thời gian thực hiện)
+ Danh sách khách mời, thông tin của khách mời.
+ Các hình ảnh, video…chứng minh.
11. Các hóa đơn mua hàng hóa kèm Bảng kê:
- Bên bán xuất hóa đơn hàng hóa cho doanh nghiệp kèm Bảng kê chi tiết nhưng Bảng kê không đầy đủ các chỉ tiêu theo hướng dẫn tại Thông tư 39/2014/TT-BTC quy định chi tiết về hóa đơn bán hàng và cung cấp dịch vụ: Bảng kê không có dấu của bên bán (HĐ 0152 – 09/01/13), không có thông tin đơn vị bán hàng, mua hàng, các chỉ tiêu Người bán hàng, Người mua hàng, Thủ trưởng đơn vị…
12. Cơ cấu nguồn vốn kinh doanh, thủ tục tăng vốn điều lệ.
- Tại thời điểm kiểm tra: Vốn điều lệ: x tỷ đồng; Vốn khác: xxxx tỷ đồng. Trong các năm 2009 – 2012, đơn vị đã ghi nhận các nghiệp vụ tăng vốn góp vào TK 4118 ( Vốn khác - Hệ thống tài khoản theo Quyết định 48/2006/QĐ-BTC). Theo các văn bản hướng dẫn về chế độ, chuẩn mực kế toán..thì “ Nguồn vốn khác thuộc nguồn vốn chủ sở hữu ( ngoài Vốn đầu tư của chủ sở hữu/ Vốn điều lệ) gồm: lợi nhuận chưa phân phối, tăng vốn bằng phát hành cổ phiếu mới, các quỹ đầu tư phát triển, dự phòng tài chính...”. Như vậy, với việc tăng vốn của công ty phải được hạch toán vào nguồn vốn góp của chủ sở hữu (các cổ đông công ty).
- Đối với việc tăng vốn của công ty theo Luật doanh nghiệp, Luật chứng khoán thì đơn vị phải tiến hành: thủ tục tăng vốn điều lệ đối với công ty cổ phần (Nghị định 43/2010/NĐ-CP), đăng ký/ báo cáo kết quả chào bán cổ phiếu riêng lẻ đối với công ty cổ phần chưa phải là công ty đại chúng gửi Sở kế hoạch và Đầu tư.
Nghiệp vụ góp vốn liên doanh/ đầu tư vào đơn vị khác:
- Trong năm 2009, kế toán đơn vị có ghi nhận Nghiệp vụ: thu lại vốn góp lien doanh/ đầu tư vào đơn vị khác và không phản ánh lãi/ lỗ từ hoạt động đầu tư. Thông thường khi kiểm tra, quyết toán thuế, cán bộ thuế sẽ yêu cầu cung cấp: Văn bản chấp thuận của Đại hội đồng cổ đồng/ Hội đồng quản trị về việc góp vốn liên doanh/ đầu tư; Biên bản liên doanh; Biên bản hoàn trả vốn đầu tư; Lợi nhuận thu được từ hoạt đồng Liên doanh/ đầu tư.
13. Tính và ghi nhận giá nhập kho hàng hóa.
- Giá hàng hóa nhập kho (Chuẩn mực số 02 về Hàng tồn kho): giá mua hàng hoá + Chi phí phát sinh từ hoạt động mua hàng hóa – Các khoản giảm trừ (giảm giá, khuyến mại...). Cụ thể đối với đơn vị: Giá ô tô nhập kho = Giá mua theo Hợp đồng ( Giá CIF hoặc FO8-) + Cước biển (nếu là nhập khẩu theo PT: FO8-) + Các loại thuế + Các chi phí Handing, THT, nâng rỗng, hạ rỗng, vệ sinh cont..+ Cước vận chuyển nội địa.
- Qua kiểm tra các năm 2009 – 2012, kế toán đơn vị đã không phản ánh đúng giá hàng hóa nhập kho ( Thay vì hạch toán vào Tài khoản 156: Hàng hóa thì kế toán đơn vị lại hạch toán vào tài khoản 142, 242 và kết chuyển vào Chi phí kinh doanh) dẫn đến giá xuất kho sai, giá vốn hàng bán sai.
14. Các nghiệp vụ dư có Tài khoản 131.
- Trong các năm 2009 – 2012, kế toán đơn vị phản ánh các bút toán phát sinh giảm tài khoản 131: Phải thu khách hàng với số tiền lớn (Tổ chức: xxxxx). Do chưa kiểm tra chi tiết Hợp đồng, chứng thu tiền, chi tiền nên chỉ có thể tạm nhận định việc phát sinh giảm TK 131 là do : khách hàng ứng trước tiền mua hàng; ký quỹ nếu là tổ chức phân phối…Tuy nhiên, Số dư Có tài khoản kéo dài và các nghiệp vụ hoàn trả bằng tiền mặt..Với các nghiệp vụ này, CB thuế sẽ yêu cầu cung cấp Hợp đồng, chứng từ thu, chi tiền, giải trình ..do CQ thuế nghi ngờ việc trốn doanh thu (bán hàng không xuất hóa đơn).
15. Hạch toán kết chuyển lợi nhuận chưa phân phối năm trước sang năm nay vào ngày đầu năm tài chính:
- Tài khoản 421: Lợi nhuận chưa phân phối được phân ra 02 tài khoản chi tiết: 4211: Lợi nhuận chưa phân phối năm trước và 4212: Lợi nhuận chưa phân phối năm nay.
- Về nguyên tắc hạch toán: Tại ngày đầu năm tài chính kế toán cần kết chuyển lợi nhuận chưa phân phối năm trước sang LN chưa phân phối năm này bằng bút toán:
N 4212/ C 4211: nếu lãi hoặc N 4211/ C 4212: nếu lỗ.
( Giả sử năm trước lãi và lãi lũy kế thì số dư cuối năm trước thể hiện ở bên Có TK 4212, sang tài chính tiếp theo hạch toán N 4212/ C 4211: để chuyển lãi năm nay sang năm trước nhằm tách lợi nhuận từng năm và số dư Nợ hoặc Có cuối kỳ tài khoản 4212 trên bảng cân đối phát sinh tài khoản chỉ thể hiện lợi nhuận của năm hiện hành)
- Mục đích của việc hạch toán bút toán này ngoài việc đúng bản chất, hướng dẫn theo chế độ kế toán còn giúp người đọc báo cáo tài chính nhìn rõ lợi nhuận năm nay là bao nhiêu, năm trước là bao nhiêu..
16. Các bút toán đối ứng tài khoản:
- Ngày 28/02/2009, kế toán đơn vị phản ánh Bút toán đối ứng giữa tài khoản 131 và 311: xtỷ ( 131- x). Nghiệp vụ này sai về bản chất tài khoản, nguyên tắc hạch toán và ảnh hưởng đến Báo cáo tài chính của đơn vị.
- Trong năm 2013, kế toán đơn vị phản ánh bút toán đối ứng tài khoản 511 với 2111: x đồng. Nghiệp vụ này sai về nguyên tắc đối ứng tài khoản.
17. So sánh tỷ lệ giá vốn hàng hóa/ Doanh thu các năm:
- So sánh tỷ lệ giá vốn hàng bán/ doanh thu các năm thì tỷ lệ giá vốn hang bán dao động từ 96% - 99,2%. Đối với doanh nghiệp thương mại thì tỷ lệ Giá vốn hàng bán/ Doanh thu của đơn vị bất hợp lý.
- Ngoài ra, kế toán đơn vị chưa ghi nhận đúng giá hàng hóa nhập kho dẫn đến giá vốn hàng bán sai. Nếu kế toán đơn vị hạch toán đúng giá nhập xuất kho (ngoài sai sót ghi nhận các chi phí nhập mua hàng hóa) thì tỷ lệ giá vốn hàng bán/ doanh thu của đơn vị có thể > 100%.
- Trong trường hợp: Giá vốn hàng bán của đơn vị lớn hơn hoặc bằng doanh thu. Khi cơ quan thuế kiểm tra, thanh quyết toán có thể ấn định giá trên cơ sở giá giao dịch thông thường trên thị trường (Điểm 1 Mục I Thông tư 69/2002/TT-BTC ngày 16/08/2002 ( trước 07/05/2010) Khoản 2 Điều 4 Thông tư 71/2010/TT_BTC ngày 07/05/2010 (thay thế Thông tư 69/2002/TT-BTC) hoặc Công văn số 2900/TCT-CS ngày 18/08/2011).
- Ngoài ra, đối với các doanh nghiệp có doanh thu lớn, giá vốn hàng bán chiếm tỷ lệ cao, lỗ kéo dài..cơ quan thuế thường nghi ngờ doanh nghiệp có hành vi gian lận thuế, trốn thuế và có thể bị xử phạt truy thu 1 – 3 lần ( Điều 107, 108 Luật Quản lý thuế).
Nguồn: Van Phong Pham NNo (vui lòng ghi rõ nguồn khi sao chép, chia sẻ)

Công ty dịch vụ kế toán Hà Nội Chuyên cung cấp các loại dịch vụ kế toán như : 
Hotline: Mr Quân 0974 975 029 – 0941 900 994 Hỗ trợ: 24/7
[Read More...]


TRUNG TÂM KẾ TOÁN HÀ NỘI

Return to top of page